1 - 8 - 2021 | 19:45
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Ý KIẾN VÀ BÌNH LUẬN Chính sách phát triển sức mạnh biển của Philippines dưới thời tổng tổng Benigno Aquino III

Chính sách phát triển sức mạnh biển của Philippines dưới thời tổng tổng Benigno Aquino III

Email In PDF.

Philippines là nước có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông nhưng có sức mạnh hải quân và chấp pháp biển rất yếu. Chính quyền Tổng thống lần thứ 15 của Philippines Benigno Aquino III từ những năm 2010-2016 đã tích cực phát triển các lực lượng trên biển nhằm có thêm sức mạnh răn đe đủ tin cậy, góp phần bảo vệ yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi ích của Philippines trên Biển Đông.

 

 

Philippines là nước có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông nhưng có sức mạnh hải quân và chấp pháp biển rất yếu nên không đủ khả năng giám sát các vùng biển và kháng cự hiệu quả đối với một số hành động chèn ép của Trung Quốc trên Biển Đông. Vì thế, Philippines đã luôn bị lép vế trong các cuộc đương đầu với Trung Quốc trên Biển Đông, thậm chí bị thất bại, điển hình như việc mất kiểm soát Scarborough vào năm 2012. Chính quyền Tổng thống lần thứ 15 của Philippines Benigno Aquino III từ những năm 2010-2016 đã tích cực phát triển các lực lượng trên biển nhằmthêm sức mạnh răn đe đủ tin cậy, góp phần bảo vệ yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi ích  của Philippines trên Biển Đông.

PHẠM DUY THỰC[1]

Là nước có yêu sách chủ quyền và có lợi ích lớn ở Biển Đông nhưng Philippines có sức mạnh hải quân và chấp pháp biển rất yếu so với các bên có yêu sách khác ở Biển Đông như Việt Nam, Malaysia và đặc biệt là Trung Quốc. Theo thống kê trong Chiến lược An ninh Châu Á – Thái Bình Dương của Bộ Quốc phòng Mỹ năm 2015, Philippines chỉ có 14 tàu hải quân các loại, tương đương 4,6% số lượng tàu của Trung Quốc với 303 tàu các loại. Các tàu hải quân của Philippines chủ yếu là các tàu cũ do Mỹ chế tạo từ thời chiến tranh thế giới thứ hai, là các tàu tuần tra bờ biển, tàu đổ bộ và tàu cứu hộ cứu nạn, không có tàu tên lửa, tàu ngầm, trong khi năng lực không chiến và săn ngầm rất hạn chế. Philippines chỉ có 4 tàu chấp pháp biển, chỉ bằng 1,95% số lượng tàu chấp pháp biển của Trung Quốc với 205 tàu.[2]

Từ bảo vệ an ninh nội địa

Nguyên nhân chính dẫn đến sự yếu kém trong sức mạnh biển của Philippines do tư duy bảo vệ an ninh nội địa.

Trong suốt thời gian dài từ khi độc lập năm 1946, Philippines chỉ tập trung bảo đảm an ninh trong đất liền, không chú ý đến các thách thức đến từ biển. Philippines tập trung trấn áp các lực lượng phiến quân trong nước như Abu Sayyaf ở miền nam, Mặt trận giải phóng quốc gia Moro (MNLF) và Mặt trận giải phóng Hồi giáo Moro (MILF) để giữ vững an ninh và chính thể.[3]

Bước sang thế kỷ 21, mặc dù Trung Quốc dần dần tăng cường trở lại các hoạt động quyết đoán trên Biển Đông vào nửa cuối thập niên 2000 nhưng Philippines chưa nhận thấy mối đe doạ này một cách rõ ràng. Philippines vẫn tiếp tục đề cao an ninh nội địa. Philippines tận dụng cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ để tăng cường hợp tác và xin hỗ trợ quân sự của Mỹ để tiêu diệt các lực lượng phiến quân ly khai và cực đoan trong nước. Hệ quả là năm 2012, Philippines thất bại trong việc ngăn chặn Trung Quốc sử dụng sức mạnh vượt trội để chèn ép và đẩy Philippines ra khỏi Bãi cạn Scarborough. Các tàu hải cảnh của Trung Quốc từ đó thay phiên nhau phong toả và kiểm soát thường trực toàn bộ bãi cạn.

Đến bảo vệ an ninh từ biển

Sự kiện Scarborough là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với Philippines trước mối đe doạ rõ ràng từ biển của Trung Quốc. Chính quyền Tổng thống Aquino quyết định chuyển trọng tâm bảo vệ an ninh trong nước hướng ra bên ngoài bảo vệ chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông và coi các mối đe doạ đối với chủ quyền lãnh thổ từ biển là thách thức an ninh hàng đầu.[4]

Theo Văn bản chiến lược của quân đội Philippines, mục tiêu hướng an ninh ra biển của chính quyền Tổng thống Aquino là nhằm tập trung nguồn lực để xây dựng một “sức mạnh răn đe đủ tin cậy” với một lực lượng hải quân và chấp pháp biển đủ mạnh để có thể chống lại sự xâm lấn hoặc xâm lược từ bên ngoài và ngăn chặn hiệu quả các hoạt động phi pháp trên vùng biển của Philippines.[5]

Trên cơ sở đó, Philippines định hướng phát triển đồng thời sức mạnh biển trên hai khía cạnh, gồm nâng cao năng lực nhận thức về biển và củng cố khả năng ngăn chặn (interdiction).

Về nâng cao năng lực nhận thức về biển, Philippines thành lập Hệ thống giám sát bờ biển quốc gia (NCWS). Đây là trung tâm chỉ đạo, điều hành và điều phối liên cơ quan về an ninh biển của Philippines. Để vận hành hệ thống này, Philippines cần trang bị các thiết bị không quân, đội ngũ nhân lực thành thạo và các hệ thống ra-đa hiện đại. Trong đó, các máy bay tuần tra tầm xa, máy bay tấn công trên biển là những loại vũ khí cần thiết, vừa giúp giám sát vùng biển vừa cải thiện khả năng tấn công trong cuộc đối đầu quy mô nhỏ ở trong lãnh hải và EEZ của Philippines.[6]

Về củng cố khả năng ngăn chặn, Philippines tăng cường kết hợp hệ thống phòng không của không quân với NCWS. Việc này giúp mở rộng tầm bao phủ và tầm xa cho các lực lượng trinh sát và năng lực tìm kiếm mục tiêu. Trong đó, máy bay tuần tra và trinh sát là công cụ chính thực hiện các hoạt động này. Trực thăng từ các tàu trên mặt nước góp phần tăng cường hiện diện và bổ sung sức mạnh cho các máy bay trinh sát. Hệ thống phòng không và tên lửa bờ biển cũng được kết nối với hệ thống đánh chặn trên mặt biển và tàu ngầm để tạo thành lớp bảo vệ đầu tiên ở vòng ngoài.[7]

Các hướng triển khai

Trên cơ sở đó, Philippines triển khai phát triển sức mạnh biển theo hai hướng chính. Một mặt Philippines tăng cường hiện đại hoá các lực lượng, mặt khác mở rộng hợp tác quốc phòng với đồng minh và đối tác an ninh cùng chung chí hướng.

Về hiện đại hoá quốc phòng, chính quyền Tổng thống Aquino tăng chi mua sắm trang thiết bị. Giữa năm 2012, Tổng thống Aquino quyết định chi 500 tỷ peso (khoảng 10 tỷ USD) cho chương trình mua sắm thiết bị khá tham vọng trong vòng 15 năm, gồm 6 tàu khu trục có khả năng chống ngầm và phòng không; 12 tàu hộ vệ chống ngầm; 18 tàu tuần tra bờ biển; 26 trực thăng hải quân đa nhiệm; 42 tàu tấn công đa mục tiêu được trang bị ngư lôi và tên lửa; và 3 tàu ngầm. Tuy nhiên, nhiều hạng mục không được triển khai do khó khăn về ngân sách.[8]

Để giảm bớt gánh nặng cho chính phủ về chi phí mua sắm này, chính quyền Tổng thống Aquino tính toán triển khai một số biện pháp hỗ trợ, gồm: (i) lập đối tác chiến lược với các cơ quan nước ngoài và khu vực tư nhân với một số hạng mục dịch vụ, ví dụ như thiết bị thông tin; (ii) thuê trang thiết bị quân sự, ví dụ như thuê tàu khu trục lớp Perry của Mỹ; (iii) cân nhắc phát triển hệ thống tên lửa chống hạm tầm xa đặt ở bờ biển, ví dụ như tên lửa RGM-84 Harpoon và tên lửa RGM-109B Tomahawk của Mỹ, hoặc tên lửa BrahMos của Ấn Độ, tên lửa P-800 Yakhont của Nga.[9]

Về hợp tác với đồng minh và đối tác, Philippines lấy liên minh với Mỹ làm trụ cột và kết nối với các nước có năng lực quốc phòng mạnh trong hệ thống liên minh “trục - nan hoa” của Mỹ ở khu vực. Chủ trương này được nêu rõ trong các văn kiện chiến lược quốc phòng của Philippines như Chính sách an ninh quốc gia, Chỉ thị về hợp tác quốc tế của quân đội Philippines, văn bản Chiến lược quân sự của Văn phòng Phó Thăm mưu trưởng quân đội Philippines.[10]

Với Mỹ, hợp tác quân sự giữa hai nước phát triển mạnh mẽ nhất từ khi Mỹ rút lực lượng khỏi Philippines vào năm 1991. Hợp tác phát tiển trên tất cả các mặt của quan hệ liên minh, từ tổ chức Đối thoại chiến lược song phương (BSD) thường niên cấp thứ trưởng ngoại giao và quốc phòng;[11] đến ký kết Hiệp định hợp tác quốc phòng tăng cường (EDCA) năm 2014 cho phép Mỹ điều chuyển luân phiên quân đội và trang thiết bị vào các căn cứ quân sự ở Philippines mà Mỹ không phải trả tiền thuê;[12] Mỹ hỗ trợ tài chính và thiết bị quân sự cho Philippines như 2 tàu hải quân, là tàu BRP Grigorio del Pilar năm 2011 và tàu BRP Ramon Alcaraz năm 2012, và mức viện trợ lớn nhất vào năm tài khoá 2016 với 79 triệu USD viện trợ quân sự và 42 triệu USD an ninh biển;[13] tổ chức các cuộc tập trận hải quân chung, đặc biệt là tập trận “Vai kề vai” (Balikatan) năm 2016 có quy mô lớn hơn trước nhiều (gần 10.000 binh sĩ), nội dung tập trận hướng vào không gian biển, gồm chiếm lại đảo và đột kích giàn khoan;[14] và ký kết Thoả thuận Mỹ sử dụng 5 căn cứ quân sự ở Philippines (3/2016), gồm các căn cứ không quân Antonio Bautista và Basa ở Manila, Lumbia ở Mindanao, Mactan-Benito Ebuen ở Sebu và căn cứ huấn luyện Fort Masaysay ở Palawan.[15]

Với các nước “nan hoa”, Philippines tăng cường hợp tác quân sự với Nhật Bản và Úc. Philippines mua 10 tàu tuần tra của Nhật Bản theo cơ chế viện trợ ODA (vì hiến pháp Nhật Bản ngăn cản Nhật Bản xuất khẩu vũ khí), tập trận chung hải quân với Nhật Bản, tiếp đón tàu chiến của Nhật Bản thường xuyên thăm cảng Philippines và tổ chức các hoạt động giao lưu chung. Philipines dần mở rộng hợp tác an ninh với Úc như nhận tàu đổ bộ hạng nặng Balikpapan đã qua sử dụng của Úc (3/2016), lần đầu tiên binh sĩ Úc tham gia tập trận “Vai kề vai” năm 2016…

Thành công và hạn chế

Quá trình triển khai kể trên cho thấy chính sách phát triển sức mạnh biển của Philippines đạt được một số thành công nhất định. “Sức mạnh cứng” trên biển của Philippines được cải thiện hơn, đặc biệt là sự giúp đỡ cả về nguồn lực tài chính và trang thiết bị từ Mỹ, Nhật Bản và Úc. Khả năng tuần tra giám sát biển cũng được cải thiện hơn. Quan trọng hơn, “sức mạnh mềm” trên biển của Philippines tăng lên. Philippines thiết lập được mạng lưới đồng minh, đối tác và bạn bè cùng chung chí hướng trong việc kìm hãm hành vi quyết đoán và mở rộng kiểm soát, cưỡng ép của Trung Quốc trên Biển Đông nói chung và đối với Philippines nói riêng.

Tuy nhiên, Philippines chưa đạt được “sức mạnh răn đe đáng tin cậy” như mục tiêu đề ra vì những hạn chế khó có thể được giải quyết được trong ngắn hạn.

Thứ nhất, Philippines thiếu nguồn lực tài chính. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều hạng mục quan trọng trong kế hoạch mua sắm trang thiết bị quân sự năm 2012 không được triển khai đầy đủ. 70% ngân sách quốc phòng của Philippines là dành để chi trả lương và phụ cấp cho quân đội. Trong khi đó, Hiến pháp của Philippines quy định ngân sách dành cho quốc phòng không được cao hơn giáo dục.[16]

Thứ hai, lực lượng hải quân và cảnh sát biển của Philippines vẫn còn quá yếu, không ngăn chặn và răn đe được các lực lượng trên biển của Trung Quốc. Tàu hải quân và cảnh sát biển của Philippines chủ yếu hiện diện và giám sát từ xa, kiềm chế, tránh va chạm với các lực lượng của Trung Quốc hoạt động xung quanh các thực thể mà Philippines yêu sách trên Biển Đông.

Thứ ba, mạng lưới đồng minh và đối tác của Philippines chưa đủ mạnh và bền chặt để bảo vệ được Philippines trên Biển Đông. Quan hệ quân sự với Mỹ được tăng cường nhưng Philippines thấy không chắc chắn về sự tham chiến của Mỹ để bảo vệ Philippnies trong cuộc xung đột nước khác trên Biển Đông, gồm Trung Quốc. Hiệp định phòng thủ chung năm 1951 (MDT) quy định khá lỏng lẻo, chỉ khẳng định “mỗi bên nhận thấy một cuộc tấn công vũ trang ở Thái Bình Dương đối với bên kia sẽ đe doạ đến hoà bình và an toàn của mình thì sẽ hành động theo quy trình hiến pháp của mình” (Điều 4). “Hành động theo quy trình hiến pháp” không rõ ràng, không quy định rõ việc Mỹ đưa quân đội, tàu chiến đến chiến đấu bảo vệ các lực lượng của Philippines trên Biển Đông nếu xung đột xảy ra. Đặc biệt, MDT không có tác dụng răn đe trong bối cảnh Trung Quốc triển khai chiến thuật cưỡng ép bán quân sự đối với Philippines vì hành động này của Trung Quốc không phải là tấn công vũ trang. Ngoài ra, năm căn cứ không quân mà Mỹ sử dụng trên đất liền của Philippines không giúp ích nhiều cho các vụ việc cưỡng ép Philippines trên Biển Đông.[17] Trong khi đó, bản thân Mỹ cũng không sẵn sàng đối đầu với Trung Quốc trên thực địa vì Mỹ chủ trương tránh va chạm trên biển với Trung Quốc thông qua kết MOU về “quy tắc tránh đụng độ trên không” và “thông báo các hoạt động quân sự” năm 2014.[18]

Kết luận

Chính quyền Tổng thống Aquino (2010-2016) đã nỗ lực phát triển các lực lượng biển nhằm có được sức mạnh răn đe đủ tin cậy nhằm kháng cự lại sự cưỡng ép của Trung Quốc trên Biển Đông. Philippines thay đổi tư duy về an ninh từ tập trung bảo vệ an ninh nội địa sang bảo vệ an ninh từ biển. Để đạt được mục tiêu đó, Philippines một mặt tăng cường hiện đại hoá quốc phòng, mặt khác đẩy mạnh hợp tác quốc tế về an ninh quốc phòng thông qua mạng lưới “trục - nan hoa” của Mỹ. Philippines phát triển quan hệ quốc phòng với Mỹ mạnh mẽ nhất từ khi Mỹ rút khỏi căn cứ quân sự ở Philippines sau Chiến tranh lạnh, đồng thời tăng cường hợp tác với Nhật Bản và Úc.

Nỗ lực của chính quyền Tổng thống Aquino giúp Philippines cải thiện sức mạnh biển, nhất là “sức mạnh răn đe mềm” với mạng lưới đồng minh và đối tác cùng chí hướng kìm hãm sự quyết đoán của Trung Quốc trên Biển Đông. Tuy nhiên, Philippines chưa đạt được “sức mạnh răn đe đủ tin cậy”. Lực lượng hải quân và chấp pháp của Philippines vẫn còn quá yếu so với Trung Quốc. Philippines vẫn phải tự kiềm chế trước các hành động chèn ép của Trung Quốc trên Biển Đông, trong khi đồng minh và đối tác của Philippines không thể trực tiếp can dự vào các vụ việc để bảo vệ được lực lượng của Philippines trên Biển Đông.

Do đó, chính quyền Aquino phải vận dụng tổng hợp sức mạnh biển với các biện pháp ngoại giao, pháp lý, tuyên truyền... để tạo sức mạnh tổng hợp lớn hơn đấu tranh với Trung Quốc bảo vệ chủ quyền và lợi của mình trên Biển Đông và xu hướng này có thể sẽ được tiếp tục phát huy trong thời gian tới.

Phạm Duy Thực, Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.



[1] Nghiên cứu sinh Tiến sĩ, Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao.

[2] US Department of Defense, Asia Pacific Maritime Security Strategy, August 2015: 12-13.

[3] Ronnie Gil L. Gavan, “Organized national engagement at Sea: Optimizing the State’s option for maritime security,” Digest Forum for Security and Defense Issues (First Quarter, 2012): 1.

[4] Renato Cruz de Castro, paper presented at the 9th Berlin Conference on Asia Security: “International Dimension of National in Security Concepts, Challenges and Ways Forwards” Berlin, 14-16/4/2015: 13.

[5] Office of the Deputy Chief of Staff, Armed Forces of the Philippines: Strategic Intent (Quezon City: Camp Aguinaldo, 2011): 27.

[6] Peter Chalk, “Rebuilding while reforming: Military modernization in the Philippines,” Australian Strategic Policy Insitute (6/2014): 6.

[7] Joe Renan C. Suarez, “The imperatives of defending the Philippines and air-defense partnership”, paper presented at the Air Power Symposium 2012, (21/6/2012): 6.

[8] Eric Johnson, “Modernizing the Philippines Navy,” US Naval Institute Proceedings, Vol.140, Issue 11 (11/2014): 28.

[9] AFP, “DND urged to upgrade land-based capabilities,” Philstar, 19/8/2012.

[10] National Security Council,  National Security Policy 2011-2016: Securing the Gains of Democracy, (Quezon City, April 2011): 29-30; Office of Plans and Program (J-5), Strategic Dimension of ARF International Military Affairs: Execusive Summary (Camp Aguinaldo, 2010): 2. Office of the Deputy Chief of staff, Armed Forces of the Philippines: Strategic Intent (Quezon City: Camp Aguinaldo, 2011): 27.

[11] Đối thoại chiến lược song phương (BSD) là kênh chính để hai nước tăng cường quan hệ liên minh và chia sẻ thông tin chiến lược, chính sách.

[12] Philippines Government, Agreement between the Government of the Republic of the Philippines and the Government of the United States of America on the Enhanced Defense Cooperation, 29/4/2014.

[13]Chiếm 80% gói hỗ trợ đầu tiên của Sáng kiến an ninh biển Đông Nam Á (MSI) mà Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter tuyên bố tại Đối thoại Shangri-La tháng 5/2015). Xem trong: White House, Fact Sheet: US Building Maritime Capacity in Southeast Asia, 17/11/2015.

[14] Hai nước cũng tổ chức hai cuộc tuần tra chung ở Biển Đông vào tháng 3 và tháng 4/2016. Xem trong: Srats and Stripes, “The US to rotate more aircraft, troops through Philippines,” 14/4/2016.

[15] Reuters, “The US agrees deal on rotational presence at five bases in Philippines,” 18/3/2016.

[16] Peter Chalk, “Rebuilding while reforming: Military modernization in the Philippines,” Australian Strategic Policy Insitute (6/2014): 13.

[17] USNI, “Analysis: New US-Philippines Basing Deal Heavy on Air Power, Light on Naval Support,” 22/3/2016.

[18] White House, Fact Sheet: President Xi Jinping’s State Visit to the United States, 25/9/2015.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Đằng sau phản ứng của các nước dịp kỉ niệm 5 năm Phán quyết Biển Đông

Đằng sau phản ứng của các nước dịp kỉ niệm 5 năm Phán quyết Biển Đông

5 năm sau khi Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) ra phán quyết lịch sử về Biển Đông nghiêng về phía Philippines, Mỹ và một số quôc gia đã ra tuyên bố ủng hộ Phán quyết. Những tuyên bố này có những điểm chung, điểm riêng và cả những khác biệt so với tuyên bố của chính những nước này 5 năm trước. Điều này thể hiện những bước chuyển chính sách rõ rệt trong vấn đề Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chính sách phát triển sức mạnh biển của Philippines dưới thời tổng tổng Benigno Aquino III

Chính sách phát triển sức mạnh biển của Philippines dưới thời tổng tổng Benigno Aquino III

Philippines là nước có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông nhưng có sức mạnh hải quân và chấp pháp biển rất yếu. Chính quyền Tổng thống lần thứ 15 của Philippines Benigno Aquino III từ những năm 2010-2016 đã tích cực phát triển các lực lượng trên biển nhằm có thêm sức mạnh răn đe đủ tin cậy, góp phần bảo vệ yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi ích của Philippines trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Hoạt động tự do hàng hải của Mỹ ở Biển Đông những tháng đầu của Chính quyền Biden: những điểm tiếp nối và xu hướng mới trong cách thức triển khai

Hoạt động tự do hàng hải của Mỹ ở Biển Đông những tháng đầu của Chính quyền Biden: những điểm tiếp nối và xu hướng mới trong cách thức triển khai

Các hoạt động tự do hàng hải (FONOP) của Mỹ ở Biển Đông thường nhận được sự quan tâm lớn của truyền thông và dư luận. Đây có thực sự là một tiêu chí quan trọng để đánh giá về sự can dự của Mỹ tại Biển Đông? Bài viết sau đây muốn đưa đến một cách nhìn khách quan, khái quát hoá về FONOP của Mỹ ở Biển Đông cũng như những nét mới trong cách tiếp cận của Chính quyền Joe Biden với hoạt động này.

Đọc tiếp...

Mỹ tăng hợp tác chiến lược với Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương: Xu hướng và quan ngại

Mỹ tăng hợp tác chiến lược với Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương: Xu hướng và quan ngại

Tiếp nối đà từ các giai đoạn trước, Chính quyền Biden tiếp tục tăng cường hợp tác chiến lược với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Kể từ khi cầm quyền, Chính quyền Biden tiếp tục thúc đẩy các bước đi trong quan hệ chiến lược với khu vực trên nhiều lĩnh vực, cho thấy việc Mỹ tăng hợp tác chiến lược với khu vực có thể là một xu hướng dài hạn. Tuy nhiên, các bước đi này cũng tạo ra những quan ngại nhất định từ khu vực và nếu không được xử lý thích đáng sẽ làm giảm hiệu quả hợp tác của Mỹ với khu vực.

Đọc tiếp...

Tàu tự hành – ngành công nghiệp kỹ thuật cao mới nổi của Trung Quốc và tác động đến tình hình Biển Đông

Tàu tự hành – ngành công nghiệp kỹ thuật cao mới nổi của Trung Quốc và tác động đến tình hình Biển Đông

Việc chính phủ Trung Quốc ban hành chính sách thúc đẩy nghiên cứu, chế tạo phương tiện tự hành cũng như những thành công bước đầu của các doanh nghiệp Trung Quốc trong lĩnh vực này sẽ khiến cho cục diện Biển Đông càng trở nên phức tạp, đặc biệt trong bối cảnh quy định của luật pháp quốc tế vẫn còn nhiều “lỗ hổng” quanh khái niệm này.

Đọc tiếp...

Chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” phiên bản Biden: Mỹ đang siết chặt “vòng kim cô” với Trung Quốc?

Chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” phiên bản Biden: Mỹ đang siết chặt “vòng kim cô” với Trung Quốc?

Khi Tổng thống Joe Biden bước vào Nhà Trắng, nhiều câu hỏi được đặt ra: Liệu đây có phải là sự khởi đầu giúp hàn gắn quan hệ Mỹ - Trung hay Tổng thống Biden sẽ tiếp tục chính sách can dự với Trung Quốc như thời Obama khi Ông là Phó Tổng thống?

Đọc tiếp...

Chính quyền Biden tiếp tục tăng cường sức ép kinh tế với Trung Quốc

Chính quyền Biden tiếp tục tăng cường sức ép kinh tế với Trung Quốc

Ngày 3/6/2021, Tổng thống Biden ký sắc lệnh trừng phạt 59 công ty Trung Quốc nhằm ngăn chặn đầu tư từ Mỹ vào các tập đoàn, công ty trong lĩnh vực quốc phòng và công nghệ của Trung Quốc. Lệnh trừng phạt sẽ có hiệu lực vào ngày 2/8/2021 (sau khi ký sắc lệnh 60 ngày) và thời gian để các nhà đầu tư Mỹ thoái vốn trong các công ty này là một năm. Động thái này cho thấy Chính quyền Biden không chỉ duy trì mà còn mở rộng các biện pháp gây sức ép về kinh tế lên Trung Quốc của Chính quyền tiền nhiệm.

Đọc tiếp...

Sự hình thành của nhóm Bộ Tứ và tác động đối với Biển Đông

Sự hình thành của nhóm Bộ Tứ và tác động đối với Biển Đông

Ngày 12/3/2021, nhóm Bộ Tứ (Quad) gồm Mỹ, Úc, Nhật Bản, Ấn Độ lần đầu tiên tổ chức cuộc họp thượng đỉnh trực tuyến, được đánh giá là bước tiến quan trọng trong tiến trình thể chế hóa. Những đánh giá sơ bộ cho thấy tiến trình tăng cường hợp tác trong Quad có thể có các tác động tích cực đối với Biển Đông.

Đọc tiếp...

Những nét mới trong Tuyên bố Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao G7 năm 2021

Những nét mới trong Tuyên bố Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao G7 năm 2021

Ngày 3-5/5/2021, nhóm các nước phát triển G7 đã tổ chức Hội nghị cấp Bộ trưởng Ngoại giao tại Anh cùng khách mời là đại diện từ Ấn Độ, Hàn Quốc, Nam Phi và Brunei. So sánh với các Tuyên bố gần đây, Tuyên bố chung của các Bộ trưởng G7 năm nay có nhiều nét đáng chú ý.

Đọc tiếp...

Lực lượng dân binh biển Trung Quốc: nhập nhằng về pháp lý, mơ hồ về chức danh, tinh vi về chiến thuật

Lực lượng dân binh biển Trung Quốc: nhập nhằng về pháp lý, mơ hồ về chức danh, tinh vi về chiến thuật

"Núp bóng" dưới tấm bình phong “tàu cá dân sự” hay cái “mác” là “dân thường”, lực lượng dân binh biển của Trung Quốc “tha hồ” quấy rối hoặc đe dọa các tàu dân sự, tàu quân sự của nước ngoài; kết hợp với hải quân, cảnh sát biển để hình thành các thế trận “nhiều lớp” nhằm giúp Trung Quốc thực thi yêu sách trái phép của nước này trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Thấy gì từ Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của EU?

Thấy gì từ Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của EU?

 

Ngày 16/4/2021, Liên minh Châu Âu (EU) lần đầu đưa ra dự thảo chiến lược về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, hướng tới bản chiến lược cụ thể vào tháng 9 năm nay. So sánh với những chiến lược tương tự của các nước châu Âu trước đó, văn bản của EU có một số khác biệt nhất định.

Đọc tiếp...

Thấy gì từ phản ứng của Mỹ về việc tàu Trung Quốc tập kết tại Đá Ba Đầu?

Thấy gì từ phản ứng của Mỹ về việc tàu Trung Quốc tập kết tại Đá Ba Đầu?

Sau khi quan chức và truyền thông Philippines công bố thông tin về việc tàu Trung Quốc tập kết với số lượng lớn tại Đá Ba Đầu, Biển Đông vào tháng 3/2021, Mỹ đã có những phản ứng chính thức nhanh chóng, liên tục và mạnh mẽ, kết hợp với những biện pháp tuyên truyền từ kênh học giả và truyền thông.

Đọc tiếp...

Phe Biden tuyên bố nước Mỹ trở lại, Châu Á có sẵn sàng chào đón?

Phe Biden tuyên bố nước Mỹ trở lại, Châu Á có sẵn sàng chào đón?

Giá trị dân chủ gặp khủng hoảng về uy tín khi Mỹ tìm cách hàn gắn các quan hệ đồng minh truyền thống.

Đọc tiếp...

Sử dụng biện pháp vũ trang trong thực thi pháp luật trên biển: Bài học kinh nghiệm từ Mỹ và Indonesia

Sử dụng biện pháp vũ trang trong thực thi pháp luật trên biển: Bài học kinh nghiệm từ Mỹ và Indonesia

Bài tham luận này nghiên cứu biện pháp vũ trang từ các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế liên quan đến thực thi pháp luật trên biển; đồng thời điểm qua những thực tiễn của lực lượng chấp pháp trên biển của Mỹ và Indonesia. Từ đó, bài viết đúc kết kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp vũ trang trong thực thi pháp luật trên các vùng biển của Việt Nam.

Đọc tiếp...

Lưỡng hội 2020 của Trung Quốc và một vài đánh giá

Lưỡng hội 2020 của Trung Quốc và một vài đánh giá

Sau hơn hai tháng trì hoãn vì đại dịch Covid-19, cuối tháng 5 vừa qua kỳ họp Lưỡng hội – sự kiện chính trị quan trọng nhất trong năm – nơi công bố những mục tiêu và hướng đi của Trung Quốc đã được tổ chức tại Bắc Kinh.

Đọc tiếp...

Công hàm của Việt Nam gửi Tổng Thư ký Liên hợp quốc ngày 30/3/2020

Công hàm của Việt Nam gửi Tổng Thư ký Liên hợp quốc ngày 30/3/2020

Nhìn tổng thể, việc lưu hành Công hàm số 22 là phản ứng ngoại giao bình thường và tất yếu trước các tuyên bố chính trị và ngoại giao có thể gây phương hại tới quyền lợi chính đáng của Việt Nam tại Liên hợp quốc, một diễn đàn đa phương quan trọng nhất trên thế giới. Bài viết này sẽ tập trung vào phân tích nội dung Công hàm 22/HC-2020 của Việt Nam để hiểu rõ hơn lập trường của Việt Nam về các vấn đề trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Quy định về Nghiên cứu Khoa học Biển theo Công ước Luật Biển năm 1982 và một số thực tiễn liên quan

Quy định về Nghiên cứu Khoa học Biển theo Công ước Luật Biển năm 1982 và một số thực tiễn liên quan

Bài viết cung cấp góc nhìn tổng quan về các quy định liên quan tới nghiên cứu khoa học biển tại các vùng biển khác nhau theo quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, đồng thời đề cập tới một số thực tiễn trong triển khai các quy định này. 

Đọc tiếp...

Chính sách tuyên truyền về Biển Đông của Trung Quốc

Chính sách tuyên truyền về Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đang dồn nhiều các nguồn lực để tuyên truyền về Biển Đông thể hiện qua: (i) duy trì một bộ máy chỉ đạo nhất quán, thông suốt; (ii) sử dụng linh hoạt các nguồn khác nhau, đa dạng hóa các sản phẩm tuyên truyền; (iii) đa dạng hóa các kênh (báo, tạp chí, các đài phát thanh, truyền hình) và các công cụ như hội nghị, hội thảo, hội chợ, sự kiện thể thao, phim ảnh... (v) tiến tới kiểm soát các nền tảng truyền thông hiện đại.

Đọc tiếp...

Bản đồ Đường lưỡi bò năm 1951: Phép thử mới của Trung Quốc

Bản đồ Đường lưỡi bò năm 1951: Phép thử mới của Trung Quốc

Tháng 3/2018, nhóm các nhà nghiên cứu do chính phủ Trung Quốc tài trợ đã công bố công trình công bố bằng chứng mới thể hiện đường chữ U là đường biên giới trên biển của Trung Quốc. Mặc dù đây chỉ là xuất bản của một nhóm nhà nghiên cứu, nhưng nó có ý nghĩa quan trọng bởi nó là một trong số ít các công trình về chủ đề liên quan được xuất bản sau Phán quyết của Toà Trọng tài vụ kiện Philippines và Trung Quốc. Bài viết sẽ tóm tắt cũng như đánh giá tính khách quan và khoa học của kết quả nghiên cứu chính trong công trình này.

Đọc tiếp...

Biển Đông trong bài toán chiến lược của Ấn Độ

Biển Đông trong bài toán chiến lược của Ấn Độ

Mối quan hệ chiến lược giữa Ấn Độ và Việt Nam đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong chính sách của Ấn Độ về Biển Đông. Việt Nam và Ấn Độ đề cao việc tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 5506 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin