1 - 8 - 2021 | 20:45
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Ý KIẾN VÀ BÌNH LUẬN Tàu tự hành – ngành công nghiệp kỹ thuật cao mới nổi của Trung Quốc và tác động đến tình hình Biển Đông

Tàu tự hành – ngành công nghiệp kỹ thuật cao mới nổi của Trung Quốc và tác động đến tình hình Biển Đông

Email In PDF.

Việc chính phủ Trung Quốc ban hành chính sách thúc đẩy nghiên cứu, chế tạo phương tiện tự hành cũng như những thành công bước đầu của các doanh nghiệp Trung Quốc trong lĩnh vực này sẽ khiến cho cục diện Biển Đông càng trở nên phức tạp, đặc biệt trong bối cảnh quy định của luật pháp quốc tế vẫn còn nhiều “lỗ hổng” quanh khái niệm này.

 

Tàu tự hành (tàu không người lái”) không phải là một khái niệm mới xuất hiện, song ở khu vực Biển Đông, ứng dụng công nghệ này mới chỉ đang ở giai đoạn đầu phát triển. Trong đó, Trung Quốc hiện là nước tập trung cao độ vào việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ không người lái vào các hoạt động quân sự và dân sự trên biển. Điều đáng quan ngại là, kế hoạch này được đặt trong tổng thể tham vọng hiện thực hóa chiến lược “Cường quốc biển”, Kế hoạch “Made in China 2025”, và mục tiêu đẩy mạnh khoa học, công nghệ kỹ thuật cao được Trung Quốc đề ra trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 14 mới thông qua tháng 3/2021 vừa qua. Việc chính phủ Trung Quốc ban hành chính sách thúc đẩy nghiên cứu, chế tạo phương tiện tự hành cũng như những thành công bước đầu của các doanh nghiệp Trung Quốc trong lĩnh vực này sẽ khiến cho cục diện Biển Đông càng trở nên phức tạp, đặc biệt trong bối cảnh quy định của luật pháp quốc tế vẫn còn nhiều “lỗ hổng” quanh khái niệm này.

Tàu không người lái: khái niệm, phân loại và mục đích sử dụng

“Tự hành” về cơ bản là khả năng một cỗ máy có thể tự cảm nhận và phản ứng với môi trường xung quanh khi thực hiện nhiệm vụ đã được định sẵn[1]. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các hệ thống tự hành đã được ứng dụng vào các loại phương tiện từ robot, xe hơi, máy bay, tàu thuyền,… Do đó, “tàu tự hành” là một loại phương tiện ứng dụng hệ thống tự hành trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ.

Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về các phương tiện tự hành nói chung và tàu tự hành nói riêng. trư một định nghĩa thống nhất về các phươại chưa có phương tiện hoàn toàn tự hành (autonomous), mà chỉ có phương tiện tự đrư  (automated).[2] Hay nhà nghiên ca thống nhất về các phươại chưa có phương tiện hoàn toàn tự hàphương tinghiên ca  là “các phương ti thống nhất về các phươại chưa có phương tiện hoàn tocó thể dự đoán hoặc hiểu được”[3]. Hay trường Đại học California Polytechnic State (Mỹ) định nghĩa, đó là các phương tiCalifornia Polytechnic State (Mỹ) định nghĩaiện hoàmà không có shôkiông dư cóng tiCalifornia Polytechnic State (Mỹ) định nghĩaiện hoàn tocó thể dự đoán hoặc hiể.[4]

 Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng ta có thể rút ra được những đặc điểm chung của các phương tiện tự hành là: (i) là các thiết bị có khả năng tự vận hành mà không cần con người điều khiển trực tiếp; (ii) nguyên tắc xử lý thông tin gồm quan sát môi trường xung quanh, thu thập thông tin từ bộ phận cảm biến, đánh giá các hướng hành động để lựa chọn và cuối cùng là triển khai lựa chọn đó; (iii) có thể có con người điều khiển từ xa hoặc không cần sự can thiệp của con người mà dựa trên nguyên tắc đã được lập trình sẵn.

Về cách phân loại, theo Giáo sư Raul Pete Pedrozo, tàu tự hành được chia thành tàu không người lái trên mặt biển (unmanned surface vehicles, USV) và tàu không người lái dưới mặt biển (unmanned underwater vehicles, UUV) [5]. Đồng quan điểm này, Nhật Bản[6] và Trung Quốc[7] cũng chia tàu không người lái thành loại hoạt động trên mặt biển và loại hoạt động ngầm dưới mặt biển.

Về chức năng, nhiệm vụ, theo phân tích của Trung Quốc, hiện nay các nước sử dụng thiết bị không người lái trên biển cho mục đích quân sự chiếm đến 70%, còn những mục đích dân sự chỉ chiếm 30%[8].


Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược phát triển điện tử Hàng Thiên Trung Quốc[9]

Riêng với khu vực Biển Đông, theo Giáo sư Raul Pete Pedrozo, tàu tự hành chủ yếu được sử dụng để phục vụ các mục đích (i) tình báo, do thám, trinh sát và giám sát Biển Đông; (ii) nghiên cứu khoa học như thiết lập các hệ thống cảm biến đáy biển, vẽ bản đồ và khảo sát đáy biển thông qua các hoạt động khảo sát thủy văn[10].

Nghiên cứu chế tạo tàu thuyền không người lái là một nhiệm vụ trọng điểm của Trung Quốc hiện nay

So với các nước phát triển như Mỹ, Nga, Nhật,... ngành công nghiệp thiết bị không người lái trên biển của Trung Quốc phát triển sau khá lâu nhưng tốc độ tăng trưởng lại rất nhanh trong thời gian gần đây. Theo học giả Trung Quốc, đến tháng 7/2008, nước này mới bắt đầu cho nghiên cứu triển khai chiếc tàu không người lái đầu tiên phục vụ công tác dự báo khí tượng trên biển[11].

Tuy nhiên sau đó, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp chế tạo tàu không người lái ở Trung Quốc lại tăng rất nhanh. Đặc biệt từ năm 2016, nhận thấy xu hướng phát triển nhanh chóng của các thiết bị tự hành dẫn đến sự thay đổi cán cân lực lượng nếu không bắt kịp xu thế, Trung Quốc đã bắt đầu tập trung chú trọng vào lĩnh vực này. Tại văn bản chỉ đạo “Kế hoạch hành động ba năm nhằm phát triển trí tuệ nhân tạo kết hợp với internet” năm 2016 của Quốc vụ viện Trung Quốc xác định rõ “nghiên cứu chế tạo tàu thuyền không người lái là một nhiệm vụ trọng điểm của Trung Quốc”.

Ngày 27/12/2018, Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin, Bộ Giao thông vận tải, Cục Khoa học và công nghệ Quốc phòng Trung Quốc đã phối hợp ban hành “Kế hoạch hành động phát triển tàu thông minh giai đoạn 2019-2021” trong đó chỉ ra rằng, “tàu thông minh”  đang ở trong giai đoạn đầu nghiên cứu và phát triển ở các nước trên thế giới. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc “cần đẩy nhanh sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo tàu thông minh nhằm hướng tới vị trí dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực này”. Trong kế hoạch này, Trung Quốc xác định lộ trình 3 năm từ năm 2019 đến năm 2021 là giai đoạn để Trung Quốc hoàn tất việc xây dựng kế hoạch từ cấp cao nhất, đồng thời bước đầu thiết lập hệ thống tiêu chuẩn cho tàu thông minh trong đó bao gồm tàu không người lái.

Tiếp theo đó, ngày 9/5/2019, Bộ Giao thông vận tải và 7 Cục liên quan của Trung Quốc đã phối hợp ban hành “Ý kiến chỉ đạo về phát triển vận tải biển thông minh”, trong đó đã xây dựng lộ trình nhằm phát triển tàu tự hành ở Trung Quốc. Các bước cụ thể được đặt ra như sau:

-          Đến cuối năm 2020: Trung Quốc cơ bản hoàn thành khung xây dựng kế hoạch phát triển của phương tiện vận hành thông minh;

-          Đến năm 2025: chế tạo thành công các phương tiện tự vận hành và trở thành trung tâm công nghệ sáng tạo phát triển phương tiện vận tải thông minh toàn cầu;

-          Đến năm 2035: từng bước hình thành hệ thống vận tải thông minh;

-          Đến năm 2050: Hoàn thiện và đi vào vận hành hệ thống vận chuyển thông minh chất lượng cao trên toàn cầu.

Về lộ trình cụ thể trong giai đoạn hiện nay, ngày 30/4/2020, Vụ Công nghiệp Thiết bị và Công nghệ thông tin, Bộ Giao thông vận tải Trung Quốc, đã ban hành “Hướng dẫn xây dựng hệ thống tiêu chuẩn tàu thông minh” trong đó xác định cụ thể hơn về nhiệm vụ hiện nay của Trung Quốc, theo đó, giai đoạn đầu tiên là từ năm 2020-2021, Trung Quốc sẽ tập trung vào hình thành các tiêu chuẩn cơ bản về tàu thông minh như khái niệm, phân loại, công nghệ được ứng dụng, quy định về thiết kế, tiêu chuẩn thử nghiệm, kiểm định,,...; giai đoạn 2 là từ năm 2022-2025, Trung Quốc sẽ ứng dụng các công nghệ vào chế tạo tàu không người lái, đồng thời ban hành các quy định về quản lý, vận hành[12].

Như vậy, từ các văn bản, chính sách quy định và hướng dẫn có thể thấy, hiện nay Trung Quốc đang rất coi trọng việc nghiên cứu, chế tạo và phát triển tàu không người lái, đây là một kế hoạch được đầu tư kỹ lượng với lộ trình bài bản và sự tham gia của nhiều bộ ban ngành cũng như các doanh nghiệp và viện nghiên cứu của Trung Quốc.

Từ chính sách đến triển khai hành động trên thực tế và kết quả đạt được

Với chính sách thúc đẩy như phân tích bên trên của chính quyền trung ương, tốc độ sản xuất tàu tự hành của các doanh nghiệp Trung Quốc đã tăng nhanh chóng trong thời gian gần đây. Theo báo cáo của Trung Quốc, năm 2014 nước này mới chỉ có 89 chiếc tàu không người lái, song đến năm 2019, Trung Quốc đã sản xuất được 1508 chiếc, tăng khoảng 15 lần so với năm 2014[13].

Bảng: Số lượng tàu không người lái được sản xuất ở Trung Quốc (Đơn vị: chiếc)


Nguồn: Báo cáo nghiên cứu tình hình thị trường sản xuất và tiêu thụ tàu không người lái ở Trung Quốc giai đoạn 2021-2027[14]

Hiện nay, những đơn vị nghiên cứu chế tạo về tàu không người lái chủ yếu ở Trung Quốc gồm các trường đại học, cao đẳng như Đại học Công trình Duy Ngô Nhĩ , Đại học Thượng Hải, Đại học Hải dương Thượng Hải, Đại học Hải dương Đại Liên; một số viện nghiên cứu như Viện Nghiên cứu tự động hoá Thẩm Dương (Viện Khoa học Trung Quốc) và một số doanh nghiệp liên quan như Công ty Hàng Thiên Thẩm Dương, Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật trí tuệ năng lực Vân Châu (Chu Hải),... Các đơn vị này đã chế tạo thành công và đi vào vận hành một số tàu tự hành tiêu biểu dưới đây[15]: 

Tên/ số hiệu

Tính năng

Nhiệm vụ

Đơn vị chế tạo

天象 1 /

Tian Xiang 1 (Thiên Tượng)

Mỗi lần tác nghiệp được khoảng 20 ngày liên tục; hành trình đạt khoảng hàng trăm km

Ứng phó với các sự cố khẩn cấp trên biển, giám sát môi trường biển, cảnh báo thiên tai,...

Đây là chiếc tàu không người lái trên mặt biển đầu tiên của Trung Quốc được vận hành ứng dụng trên thực tế vào lĩnh vực khí tượng thuỷ văn, do Công ty con Tân Quang của Công ty Hàng Thiên Thẩm Dương nghiên cứu và chế tạo

/ Qing Hai (Thanh Hải)

Vận tốc tối đa là 18 hải lý/giờ; độ bền tối đa là 120 hải lý, trọng lượng chở đại 2,3 tấn

Thăm dò môi trường nước, đo lường biển, khảo sát thuỷ văn

Đại học Thượng Hải

“Seafly01

Chiều dài 10,25 mét, tốc độ 45 hải lý / giờ và tầm hoạt động 400 km.

Giám sát bờ biển

Công ty TNHH Công nghệ điều khiển Sifang Intelligent (Vũ Hán) phát triển

01 / Hai Teng 1 (Hải Đằng)

-

Tuần tra biển, đo đường biển,  kiểm soát và khắc phục sự cố tràn dầu, cứu hộ cứu nạn trên biển, thăm dò và tìm kiếm tàu

Đại học Hải dương Thượng Hải

领航者号海洋 / tàu khảo sát đại dương “Ling Hang Zhe”

-

Giám sát bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học, lập bản đồ dưới nước, tìm kiếm cứu nạn, tuần tra biển, cứu hộ trên biển

Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật trí tuệ năng lực Vân Châu sản xuất

云洲 洋无人 / tàu đo lường Yun Zhou (Vân Châu Hải )

-

Đo lường địa chất đáy biển, khảo sát biển, tìm kiến cứu nạn trên biển

Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật trí tuệ năng lực Vân Châu sản xuất

Bảng: Hình ảnh các mẫu tàu không người lái tiêu biểu ở Trung Quốc[16]

 

Ở Biển Đông, theo nghiên cứu của Trung Quốc, nước này đã triển khai các loại tàu sau: (i) tàu không người lái cỡ nhỏ hoạt động độc lập; (ii) tàu không người lái cỡ trung bình hoạt động tương tác và (iii) tàu không người lái hoạt động tập thể. Cụ thể:

(i) Tàu không người lái cỡ nhỏ. Tháng 4/2016, Trung Quốc đã cho vận hành tàu không người lái cỡ nhỏ quanh 4 thực thể ở  Biển Đông nhằm khảo sát địa chấn (hình ảnh bên dưới). Chiếc tàu này dài 2,5m rộng 1,4m, cao 0,6m và nặng 120kg, độ mớn nước là 0,5m. Trong quá trình khảo sát chiếc tàu không người lái này vận hành với tốc độ 4,5-5,5 hải lý/giờ. Những vùng mà tàu này hoạt động có độ sâu không quá 40m và có cả những thực thể rất nông, đây là địa hình những tàu lớn không thể hoạt động được tuy nhiên những tàu không người lái do Trung Quốc chế tạo lại hoạt động rất tốt, đây được coi là thế mạnh của những tàu không người lái mà Trung Quốc đang triển khai.[17]

Hình ảnh: tàu không người lái cỡ nhỏ được hoạt động ở Biển Đông vào tháng 4/2016


(ii) Về tàu không người lái cỡ trung bình trên Biển Đông, theo báo cáo của Trung Quốc, vào tháng 9/2016, Trung Quốc đã triển khai 2 chiếc tàu cỡ trung bình hoạt động ở ven các đảo mà Trung Quốc đang quân sự hóa nhằm thực hiện công tác đo đạc địa chất và những công việc tổng hợp khác (hình bên dưới). Hai chiếc tàu không người lái này một chiếc dài 5,65m; rộng 2,4m; cao 2,9m; nặng 1,1 tấn và một chiếc dài 6,28m; rộng 2,86m; cao 3,3m; nặng 2,6 tấn. Theo báo cáo, các tàu này đều hoạt động an toàn, chính xác, tốc độ nhanh.

Hình ảnh: tàu không người lái cỡ trung bình được hoạt động ở Biển Đông vào tháng 9/2016


(iii) Ba là các tàu hoạt động tập thể. Theo báo cáo của Trung Quốc, vào tháng 9/2018, Trung Quốc đã cho triển khai một nhóm các tàu loại hình khác nhau cùng hoạt động tương tác trên Biển Đông cũng nhằm chức năng thăm dò địa chấn và đo đạc biển. Theo đó, có một tàu không người lái cỡ trung hoạt động cùng ba tàu không người lái cỡ nhỏ. Theo báo cáo, các tàu này được hoạt động ở vùng nước có độ sâu không quá 45m, trong quá trình tác nghiệp các tàu này có thể tự tương tác để cùng chìm xuống nước tác nghiệp, thời gian hoạt động tương tác lẫn nhau có thể lên tới 3 ngày liên tục, phạm vi hoạt động có thể tới 280 km.[18]

Ngoài ra, hình ảnh công bố vào tháng 5/2018 cũng cho thấy Trung Quốc đã cho chạy thử nghiệm 56 chiếc tàu không người lái cỡ nhỏ trên Biển Đông. Oceanalpha là công ty đứng đằng sau dàn tàu này. Theo thông báo của Công ty này, họ đã thử nghiệm đội tàu nhằm kiểm tra năng lực hoạt động cũng như những ứng dụng tiềm năng trong các cuộc hải chiến. Trong clip thử nghiệm, đội tàu này xếp thành hình 2 chữ tiếng Trung “quân” và “dân” hàm ý chỉ các tàu không người lái này ở Trung Quốc sẽ được sử dụng nhằm cả mực đích quân sự và dân sự. Theo một số nhà phân tích, dù nhỏ, nhưng một dàn 56 chiếc tàu như vậy dàn hàng trên biển có thể trở thành “đàn cá mập” có khả năng nuốt chửng bất kỳ đối thủ nào trong các cuộc chiến trên biển.[19]

Ngoài ra, trong năm 2019 và 2020, ngư dân Indonesia cũng đã hai lần phát hiện tàu ngầm không người lái của Trung Quốc ở khu vực gần quần đảo Selayar, ngoài khơi Indonesia. Đây được coi là cửa ngõ dẫn vào khu vực Ấn Độ Dương. Theo thông tin từ Indonesia, chiếc tàu ngầm không người lái này của Trung Quốc thuộc dòng Sea Wing với hệ thống cảm biến nằm ở phía trước cùng với một ăng-ten phía đuôi và nhiều khả năng được sử dụng để thăm dò thông tin dưới đáy đại dương.[20]

Những hệ lụy trong tương lai

Qua nghiên cứu bên trên có thể thấy, mặc dù hiện nay, tàu không người lái của Trung Quốc mới chỉ đang ở giai đoạn đầu nghiên cứu chế tạo, thử nghiệm và bước đầu hiện diện ở khu vực Biển Đông. Tuy nhiên, không thể phủ nhận, trong số các bên yêu sách trên Biển Đông, hiện nay Trung Quốc là nước có thế mạnh vượt trội về ứng dụng khoa học công nghệ vào các thiết bị không người lái và cả mục đích dân sự và quân sự trên Biển Đông.

Theo TS Swee Lean Colin Koh, “ở Biển Đông, sau nhiều năm thực hiện chương trình toàn diện về hệ thống không người lái, cuối cùng Trung Quốc đã thành công với vị trí đứng đầu tuyệt đối trong lĩnh vực giám sát biển sử dụng các thiết bị không người lái trên không […] Ngoài ra, giữa Trung Quốc và các nước yêu sách ở Biển Đông còn tồn tại sự bất đối xứng lớn hơn về năng lực của các thiết bị không người lái, bao gồm cả mức độ hiện đại và quy mô các chương trình phát triển thiết bị tự hành”[21]. Chính vì vậy, sự xuất hiện của các thiết bị không người lái trên Biển Đông dẫn đến cán cân lực lượng trên Biển Đông càng nghiêng về phía có lợi hơn cho Trung Quốc do nước này tiếp tục đi đầu về xu hướng công nghệ mới này.

Điều đáng lo ngại là, theo học giả Trung Quốc, đây là kế hoạch được gắn chặt với việc  hiện thực hóa giấc mộng “cường quốc biển” của Chủ tịch Tập Cận Bình[22]. Do đó, trong thời gian tới, Trung Quốc sẽ tiếp tục đầu tư nguồn lực nhằm phát triển ngành công nghiệp kỹ thuật cao mới nổi này. Điều này sẽ khiến cục diện Biển Đông ngày càng phức tạp bởi hiện nay, những quy định của luật pháp quốc tế cũng còn nhiều “lỗ hổng” quanh khái niệm này./.

Hoàng Lan, nghiên cứu viên, Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao. Bài viết chỉ thể hiện quan điểm riêng của tác giả.



[1] Bích Hải, “Tự hành” – Công nghệ của tương lai, https://techinsight.com.vn/ban-biet-gi-ve-xu-huong-cong-nghe-tu-hanh/

[2] Gary Schaub, Jr. Và Jens Wenzel Kristoffersen, “In, On, or Out of the Loop? Denmark and Autonomous Weapon Systems.” (Center for Military Studies, University of Copenhagen, 2017), tr. 8.

[3] Nathan Leys, “Autonomous Weapon Systems and International Crises,” Strategic Studies Quarterly 12, 1 (2018), tr. 53.

[4] Patrick Lin, George Bekey, và Keith Abney, “Autonomous Military Robotics: Risk, Ethics, and Design.” (California Polytechnic State University, 2008), tr. 4-5.

[5] Raul Pete Pedrozo, Hoạt động của các thiết bị không người lái ở Biển Đông, Hội thảo Quốc tế về Biển Đông (DAV) lần thứ 10.

[6] Technology Planning Department, Corporate Research & Development, IHI Corporation, IHI Engineering Review Vol 49, No 2, 2016, p. 13

[7] http://www.zhanlueyanjiu.com/attached/file/20170811/20170811152117_718.pdf

[8], 应选, 江良, 科技, 国内外无人水面艇(USV研及启, http://www.zhanlueyanjiu.com/attached/file/20170811/20170811152117_718.pdf

[9] nt

[10] Tldd, [4]

[11] , , 水面无人作术发展与作战应, 水下无人系, 2018 4 , trg 4

[12]立新   夏文豪 中国无人船的政策与法律规则应对, 《海洋法律与政策》2021年第1期(1期)https://www.xindemarinenews.com/data/haishifagui/2021/0115/26543.html

[13] https://www.chyxx.com/industry/202011/909608.html

[14] nt

[15] https://www.sidvc.com/index.php?g=&m=Detail&a=detail&id=451

[16]国家海洋局南海调查中心,无人水面艇海洋调查国内展与展, 航与控, 18 卷 第 1 期 2019 2, http://dhykz.zghtqk.com/ch/reader/create_pdf.aspx?file_no=20190101&year_id=2019&quarter_id=1&falg=1

[17] nt

[18]国家海洋局南海调查中心无人水面艇海洋调查国内展与展, 航与控, 18 2019 , http://dhykz.zghtqk.com/ch/reader/create_pdf.aspx?file_no=20190101&year_id=2019&quarter_id=1&falg=1, trang 7

[20] https://thanhnien.vn/the-gioi/nghi-an-xung-quanh-tau-ngam-khong-nguoi-lai-trung-quoc-di-lac-o-indonesia-1323568.html

[21] TS Swee Lean Colin Koh, Hoạt động tình báo, do thám và trinh sát trên Biển Đông, Kỷ yếu Hội thảo Biển Đông lần thứ 10.

[22] http://news.southcn.com/gd/content/2021-04/18/content_192343316.htm


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Đằng sau phản ứng của các nước dịp kỉ niệm 5 năm Phán quyết Biển Đông

Đằng sau phản ứng của các nước dịp kỉ niệm 5 năm Phán quyết Biển Đông

5 năm sau khi Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) ra phán quyết lịch sử về Biển Đông nghiêng về phía Philippines, Mỹ và một số quôc gia đã ra tuyên bố ủng hộ Phán quyết. Những tuyên bố này có những điểm chung, điểm riêng và cả những khác biệt so với tuyên bố của chính những nước này 5 năm trước. Điều này thể hiện những bước chuyển chính sách rõ rệt trong vấn đề Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chính sách phát triển sức mạnh biển của Philippines dưới thời tổng tổng Benigno Aquino III

Chính sách phát triển sức mạnh biển của Philippines dưới thời tổng tổng Benigno Aquino III

Philippines là nước có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông nhưng có sức mạnh hải quân và chấp pháp biển rất yếu. Chính quyền Tổng thống lần thứ 15 của Philippines Benigno Aquino III từ những năm 2010-2016 đã tích cực phát triển các lực lượng trên biển nhằm có thêm sức mạnh răn đe đủ tin cậy, góp phần bảo vệ yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi ích của Philippines trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Hoạt động tự do hàng hải của Mỹ ở Biển Đông những tháng đầu của Chính quyền Biden: những điểm tiếp nối và xu hướng mới trong cách thức triển khai

Hoạt động tự do hàng hải của Mỹ ở Biển Đông những tháng đầu của Chính quyền Biden: những điểm tiếp nối và xu hướng mới trong cách thức triển khai

Các hoạt động tự do hàng hải (FONOP) của Mỹ ở Biển Đông thường nhận được sự quan tâm lớn của truyền thông và dư luận. Đây có thực sự là một tiêu chí quan trọng để đánh giá về sự can dự của Mỹ tại Biển Đông? Bài viết sau đây muốn đưa đến một cách nhìn khách quan, khái quát hoá về FONOP của Mỹ ở Biển Đông cũng như những nét mới trong cách tiếp cận của Chính quyền Joe Biden với hoạt động này.

Đọc tiếp...

Mỹ tăng hợp tác chiến lược với Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương: Xu hướng và quan ngại

Mỹ tăng hợp tác chiến lược với Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương: Xu hướng và quan ngại

Tiếp nối đà từ các giai đoạn trước, Chính quyền Biden tiếp tục tăng cường hợp tác chiến lược với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Kể từ khi cầm quyền, Chính quyền Biden tiếp tục thúc đẩy các bước đi trong quan hệ chiến lược với khu vực trên nhiều lĩnh vực, cho thấy việc Mỹ tăng hợp tác chiến lược với khu vực có thể là một xu hướng dài hạn. Tuy nhiên, các bước đi này cũng tạo ra những quan ngại nhất định từ khu vực và nếu không được xử lý thích đáng sẽ làm giảm hiệu quả hợp tác của Mỹ với khu vực.

Đọc tiếp...

Tàu tự hành – ngành công nghiệp kỹ thuật cao mới nổi của Trung Quốc và tác động đến tình hình Biển Đông

Tàu tự hành – ngành công nghiệp kỹ thuật cao mới nổi của Trung Quốc và tác động đến tình hình Biển Đông

Việc chính phủ Trung Quốc ban hành chính sách thúc đẩy nghiên cứu, chế tạo phương tiện tự hành cũng như những thành công bước đầu của các doanh nghiệp Trung Quốc trong lĩnh vực này sẽ khiến cho cục diện Biển Đông càng trở nên phức tạp, đặc biệt trong bối cảnh quy định của luật pháp quốc tế vẫn còn nhiều “lỗ hổng” quanh khái niệm này.

Đọc tiếp...

Chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” phiên bản Biden: Mỹ đang siết chặt “vòng kim cô” với Trung Quốc?

Chiến lược “Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” phiên bản Biden: Mỹ đang siết chặt “vòng kim cô” với Trung Quốc?

Khi Tổng thống Joe Biden bước vào Nhà Trắng, nhiều câu hỏi được đặt ra: Liệu đây có phải là sự khởi đầu giúp hàn gắn quan hệ Mỹ - Trung hay Tổng thống Biden sẽ tiếp tục chính sách can dự với Trung Quốc như thời Obama khi Ông là Phó Tổng thống?

Đọc tiếp...

Chính quyền Biden tiếp tục tăng cường sức ép kinh tế với Trung Quốc

Chính quyền Biden tiếp tục tăng cường sức ép kinh tế với Trung Quốc

Ngày 3/6/2021, Tổng thống Biden ký sắc lệnh trừng phạt 59 công ty Trung Quốc nhằm ngăn chặn đầu tư từ Mỹ vào các tập đoàn, công ty trong lĩnh vực quốc phòng và công nghệ của Trung Quốc. Lệnh trừng phạt sẽ có hiệu lực vào ngày 2/8/2021 (sau khi ký sắc lệnh 60 ngày) và thời gian để các nhà đầu tư Mỹ thoái vốn trong các công ty này là một năm. Động thái này cho thấy Chính quyền Biden không chỉ duy trì mà còn mở rộng các biện pháp gây sức ép về kinh tế lên Trung Quốc của Chính quyền tiền nhiệm.

Đọc tiếp...

Sự hình thành của nhóm Bộ Tứ và tác động đối với Biển Đông

Sự hình thành của nhóm Bộ Tứ và tác động đối với Biển Đông

Ngày 12/3/2021, nhóm Bộ Tứ (Quad) gồm Mỹ, Úc, Nhật Bản, Ấn Độ lần đầu tiên tổ chức cuộc họp thượng đỉnh trực tuyến, được đánh giá là bước tiến quan trọng trong tiến trình thể chế hóa. Những đánh giá sơ bộ cho thấy tiến trình tăng cường hợp tác trong Quad có thể có các tác động tích cực đối với Biển Đông.

Đọc tiếp...

Những nét mới trong Tuyên bố Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao G7 năm 2021

Những nét mới trong Tuyên bố Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao G7 năm 2021

Ngày 3-5/5/2021, nhóm các nước phát triển G7 đã tổ chức Hội nghị cấp Bộ trưởng Ngoại giao tại Anh cùng khách mời là đại diện từ Ấn Độ, Hàn Quốc, Nam Phi và Brunei. So sánh với các Tuyên bố gần đây, Tuyên bố chung của các Bộ trưởng G7 năm nay có nhiều nét đáng chú ý.

Đọc tiếp...

Lực lượng dân binh biển Trung Quốc: nhập nhằng về pháp lý, mơ hồ về chức danh, tinh vi về chiến thuật

Lực lượng dân binh biển Trung Quốc: nhập nhằng về pháp lý, mơ hồ về chức danh, tinh vi về chiến thuật

"Núp bóng" dưới tấm bình phong “tàu cá dân sự” hay cái “mác” là “dân thường”, lực lượng dân binh biển của Trung Quốc “tha hồ” quấy rối hoặc đe dọa các tàu dân sự, tàu quân sự của nước ngoài; kết hợp với hải quân, cảnh sát biển để hình thành các thế trận “nhiều lớp” nhằm giúp Trung Quốc thực thi yêu sách trái phép của nước này trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Thấy gì từ Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của EU?

Thấy gì từ Chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của EU?

 

Ngày 16/4/2021, Liên minh Châu Âu (EU) lần đầu đưa ra dự thảo chiến lược về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, hướng tới bản chiến lược cụ thể vào tháng 9 năm nay. So sánh với những chiến lược tương tự của các nước châu Âu trước đó, văn bản của EU có một số khác biệt nhất định.

Đọc tiếp...

Thấy gì từ phản ứng của Mỹ về việc tàu Trung Quốc tập kết tại Đá Ba Đầu?

Thấy gì từ phản ứng của Mỹ về việc tàu Trung Quốc tập kết tại Đá Ba Đầu?

Sau khi quan chức và truyền thông Philippines công bố thông tin về việc tàu Trung Quốc tập kết với số lượng lớn tại Đá Ba Đầu, Biển Đông vào tháng 3/2021, Mỹ đã có những phản ứng chính thức nhanh chóng, liên tục và mạnh mẽ, kết hợp với những biện pháp tuyên truyền từ kênh học giả và truyền thông.

Đọc tiếp...

Phe Biden tuyên bố nước Mỹ trở lại, Châu Á có sẵn sàng chào đón?

Phe Biden tuyên bố nước Mỹ trở lại, Châu Á có sẵn sàng chào đón?

Giá trị dân chủ gặp khủng hoảng về uy tín khi Mỹ tìm cách hàn gắn các quan hệ đồng minh truyền thống.

Đọc tiếp...

Sử dụng biện pháp vũ trang trong thực thi pháp luật trên biển: Bài học kinh nghiệm từ Mỹ và Indonesia

Sử dụng biện pháp vũ trang trong thực thi pháp luật trên biển: Bài học kinh nghiệm từ Mỹ và Indonesia

Bài tham luận này nghiên cứu biện pháp vũ trang từ các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế liên quan đến thực thi pháp luật trên biển; đồng thời điểm qua những thực tiễn của lực lượng chấp pháp trên biển của Mỹ và Indonesia. Từ đó, bài viết đúc kết kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp vũ trang trong thực thi pháp luật trên các vùng biển của Việt Nam.

Đọc tiếp...

Lưỡng hội 2020 của Trung Quốc và một vài đánh giá

Lưỡng hội 2020 của Trung Quốc và một vài đánh giá

Sau hơn hai tháng trì hoãn vì đại dịch Covid-19, cuối tháng 5 vừa qua kỳ họp Lưỡng hội – sự kiện chính trị quan trọng nhất trong năm – nơi công bố những mục tiêu và hướng đi của Trung Quốc đã được tổ chức tại Bắc Kinh.

Đọc tiếp...

Công hàm của Việt Nam gửi Tổng Thư ký Liên hợp quốc ngày 30/3/2020

Công hàm của Việt Nam gửi Tổng Thư ký Liên hợp quốc ngày 30/3/2020

Nhìn tổng thể, việc lưu hành Công hàm số 22 là phản ứng ngoại giao bình thường và tất yếu trước các tuyên bố chính trị và ngoại giao có thể gây phương hại tới quyền lợi chính đáng của Việt Nam tại Liên hợp quốc, một diễn đàn đa phương quan trọng nhất trên thế giới. Bài viết này sẽ tập trung vào phân tích nội dung Công hàm 22/HC-2020 của Việt Nam để hiểu rõ hơn lập trường của Việt Nam về các vấn đề trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Quy định về Nghiên cứu Khoa học Biển theo Công ước Luật Biển năm 1982 và một số thực tiễn liên quan

Quy định về Nghiên cứu Khoa học Biển theo Công ước Luật Biển năm 1982 và một số thực tiễn liên quan

Bài viết cung cấp góc nhìn tổng quan về các quy định liên quan tới nghiên cứu khoa học biển tại các vùng biển khác nhau theo quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, đồng thời đề cập tới một số thực tiễn trong triển khai các quy định này. 

Đọc tiếp...

Chính sách tuyên truyền về Biển Đông của Trung Quốc

Chính sách tuyên truyền về Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đang dồn nhiều các nguồn lực để tuyên truyền về Biển Đông thể hiện qua: (i) duy trì một bộ máy chỉ đạo nhất quán, thông suốt; (ii) sử dụng linh hoạt các nguồn khác nhau, đa dạng hóa các sản phẩm tuyên truyền; (iii) đa dạng hóa các kênh (báo, tạp chí, các đài phát thanh, truyền hình) và các công cụ như hội nghị, hội thảo, hội chợ, sự kiện thể thao, phim ảnh... (v) tiến tới kiểm soát các nền tảng truyền thông hiện đại.

Đọc tiếp...

Bản đồ Đường lưỡi bò năm 1951: Phép thử mới của Trung Quốc

Bản đồ Đường lưỡi bò năm 1951: Phép thử mới của Trung Quốc

Tháng 3/2018, nhóm các nhà nghiên cứu do chính phủ Trung Quốc tài trợ đã công bố công trình công bố bằng chứng mới thể hiện đường chữ U là đường biên giới trên biển của Trung Quốc. Mặc dù đây chỉ là xuất bản của một nhóm nhà nghiên cứu, nhưng nó có ý nghĩa quan trọng bởi nó là một trong số ít các công trình về chủ đề liên quan được xuất bản sau Phán quyết của Toà Trọng tài vụ kiện Philippines và Trung Quốc. Bài viết sẽ tóm tắt cũng như đánh giá tính khách quan và khoa học của kết quả nghiên cứu chính trong công trình này.

Đọc tiếp...

Biển Đông trong bài toán chiến lược của Ấn Độ

Biển Đông trong bài toán chiến lược của Ấn Độ

Mối quan hệ chiến lược giữa Ấn Độ và Việt Nam đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong chính sách của Ấn Độ về Biển Đông. Việt Nam và Ấn Độ đề cao việc tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 5569 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin