2 - 4 - 2020 | 0:39
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home QUAN HỆ QUỐC TẾ Khai thác tiềm năng hợp tác quốc phòng to lớn giữa Ấn Độ và Việt Nam

Khai thác tiềm năng hợp tác quốc phòng to lớn giữa Ấn Độ và Việt Nam

Email In PDF.

Mặc dù không thể phủ nhận thực tế là hợp tác quốc phòng giữa hai nước đang phát triển, nhưng cần phải có một tầm nhìn chiến lược và một tư duy rõ ràng để đưa nó vào một quỹ đạo cao hơn.

 

 

Ngoại giao quốc phòng đóng vai trò như một cơ chế hỗ trợ để duy trì các cấu trúc hợp tác trong không gian chiến lược, bảo vệ không gian chiến lược và khám phá hợp tác song phương trong lĩnh vực quốc phòng. Điều này được hiểu là sự răn đe mềm đối với đối thủ. Quan hệ quốc phòng giữa Ấn Độ và Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh Trung Quốc tiến hành các hoạt động xây dựng đảo ở Biển Đông, mở rộng căn cứ tàu ngầm ở Tam Á (đảo Hải Nam) và thường xuyên triển khai tàu ngầm ở Ấn Độ Dương khiến Ấn Độ hết sức quan ngại. Đề cập đến mối quan hệ của Ấn Độ với Việt Nam, ông K. Subramanyam nói: "Ấn Độ có lợi ích lớn trong việc duy trì sức ép. Đó là chính sách cơ bản của Ấn Độ từ những năm 1950. Với tiềm lực lớn nhất trong khu vực, Việt Nam là quốc gia duy nhất có thể làm được điều này. Đó là lý do tại sao của Ấn Độ và Việt Nam có lợi ích chiến lược trùng khớp nhau".

Mối quan hệ quốc phòng giữa 2 quốc gia thường được nhìn nhận từ 4 khía cạnh khác nhau. Thứ nhất, liệu đã có mối quan hệ lâu dài nào giữa bên cung cấp và bên mua, như trường hợp của Ấn Độ và Nga, hay chưa? Thứ hai, liệu đã có các sản phẩm thích hợp có thể tăng cường khả năng chiến đấu và triển khai thông tin tình báo vốn rất quan trọng trong thời chiến hay chưa? Thứ ba, liệu hai nước đã tham gia một liên doanh có thể giúp tìm hiểu thị trường quốc tế và thu được lợi ích của một liên doanh như vậy hay chưa? Thứ tư, liệu hai nước có mối đe dọa chung nào cần phải ngăn chặn và do đó có mục tiêu chiến lược xác định nào hay chưa? Trong trường hợp quan hệ quốc phòng Ấn Độ-Việt Nam, mối đe dọa chung - Trung Quốc - được coi là lý do cho sự phát triển của mối quan hệ như vậy. Tuy nhiên, rõ ràng đây không phải là trường hợp như vậy vì Việt Nam sẽ không chiến đấu chống lại Trung Quốc ở Ấn Độ Dương cũng như Ấn Độ sẽ không chiến đấu chống lại Trung Quốc ở Biển Đông; tuy nhiên, việc thu thập thông tin tình báo trước bất kỳ cuộc chiến nào là cách thức thông minh để chuẩn bị cho tình huống khẩn cấp trong chiến lược quốc phòng và quân sự của mọi quốc gia.

Việc đánh giá quan hệ quốc phòng Ấn Độ-Việt Nam giúp đưa ra những lý do khác nhau giải thích cho sự xuất hiện và phát triển của một mối quan hệ như vậy. Cả Ấn Độ và Việt Nam đều sử dụng vũ khí của Nga, và trước đó là của Liên Xô, và cần bảo trì và bảo dưỡng chúng. Do đó, thông thường người mua sẽ tìm kiếm các linh kiện theo bất kỳ cách nào có thể. Điều thú vị là trong khi các đồng minh Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) có một kho dự trữ các linh kiện, hệ thống vũ khí và quân sự thời Liên Xô lại không có một cơ sở như vậy. Do đó, trong khi Ấn Độ tìm kiếm linh kiện thay thế cho các máy bay MIG già cỗi của mình, Việt Nam tìm kiếm các linh kiện cho các tàu lớp Petya. Ấn Độ trước đó đã cung cấp 5.000 tấn linh kiện cho các tàu lớp Petya của Việt Nam và Việt Nam lại một lần nữa yêu cầu linh kiện cho những con tàu này.

Hơn nữa, bất kỳ quốc gia nào cũng phải chuẩn bị cho việc khấu hao và loại bỏ các hệ thống vũ khí sau khi vòng đời của chúng kết thúc, kể cả sau khi được nâng cấp và bảo trì thông thường. Do đó, mọi quốc gia đều có mối quan tâm chung là tìm kiếm các hệ thống mới. Trong trường hợp đó, một quốc gia sử dụng các hệ thống giống hệt hoặc tương tự nhau theo truyền thống sẽ là điểm tham chiếu thông tin về chi phí vòng đời, hiệu quả hoạt động của các hệ thống như vậy cũng như việc đào tạo nhân lực và kỹ thuật viên. Việt Nam tìm kiếm sự hỗ trợ của Ấn Độ trong kịch bản đó. Chẳng hạn, Ấn Độ đã sử dụng tàu ngầm lớp Kilo khá lâu và khi Việt Nam muốn đánh giá 2 tàu ngầm lớp Kilo khác nhau do Nga cung cấp (636-M và 877-EKM), Việt Nam đã tìm đến Ấn Độ để tìm kiếm thông tin. Ấn Độ đang sử dụng tàu ngầm 877-EKM, được nâng cấp và đưa vào dự án 08773 vào năm 2010. Do đó, sau khi xem xét chi phí hoạt động và các khía cạnh khác của tàu 877-EKM, Việt Nam đã quyết định mua tàu 636-M hiện đại và linh hoạt hơn so với 877 -EKM. Lợi ích ở đây là Ấn Độ là một quốc gia thân thiện và sẽ hỗ trợ đào tạo và bảo trì bất cứ khi nào Việt Nam có yêu cầu đối với các tàu ngầm mới này.

Theo dữ liệu mua sắm vũ khí và chi tiêu quân sự của Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI), từ năm 2009, Việt Nam đã mua radar giám sát trên không, tên lửa đất đối không, tàu tuần tra, máy bay đa năng, máy bay trực thăng vận tải, tên lửa dẫn đường, tên lửa đất đối không để phòng thủ bờ biển, tên lửa không đối không có điều khiển ngoài tầm nhìn (BVRAAM), máy bay huấn luyện, tàu khu trục Gepard-3, tàu ngầm lớp kilo E-Project, máy bay chiến đấu Su 30 MK2, ngư lôi tác chiến chống tàu ngầm, tàu hộ tống và tàu tuần tra xa bờ. Điều thú vị là trong khi hầu hết các hệ thống này có nguồn gốc từ Nga, Belarus, Romania và Slovakia, Việt Nam cũng đã bắt đầu mua các hệ thống vũ khí từ Mỹ, Pháp, Israel và Hàn Quốc. Điều này rõ ràng có nghĩa là Việt Nam đang đa dạng hóa giỏ vũ khí quân sự của mình. Hầu hết các giao dịch mua sắm đã được thực hiện là để bảo vệ bờ biển và tài sản của Việt Nam ở Biển Đông. Việc hải quân Trung Quốc sát hại 64 binh sĩ Việt Nam trong một cuộc đụng độ hải quân ở Biển Đông vào năm 1988 vẫn còn lưu lại trong tâm trí người Việt Nam. Để ngăn chặn sự tái diễn của một sự cố như vậy, binh lính và thủy thủ Việt Nam muốn xây dựng tiềm lực mạnh và có khả năng răn đe.

Việt Nam đã tìm kiếm các nhà sản xuất vũ khí tư nhân ở Ấn Độ. Việt Nam đã đặt hàng 2 tàu tấn công nhanh của công ty Larsen & Toubro (L&T). Việc mua tàu tuần tra nhanh của Ấn Độ do L&T sản xuất phục vụ 2 mục đích cho hai nước: mở ra thị trường quốc phòng cho các nhà sản xuất tư nhân và thể hiện năng lực của ngành công nghiệp tư nhân trong lĩnh vực quốc phòng của Ấn Độ. Ở Ấn Độ, các tập đoàn và công ty như Mahindra & Mahindra, Tata và L&T đã đáp ứng các yêu cầu của ngành công nghiệp quốc phòng Ấn Độ về hệ thống vũ khí không sát thương, radar và các thiết bị liên quan đến quốc phòng nhưng quy mô thị trường rất hạn chế. Nhà đóng tàu Garden Reach đã ký một đơn hàng 2 tàu với Philippines nhờ đưa ra giá thấp nhất nhưng họ đã không thể đáp ứng hầu hết các yêu cầu tài chính của đơn hàng. Chính phủ Ấn Độ muốn các công ty tư nhân trong ngành công nghiệp quốc phòng chứng tỏ hiệu quả trên trường quốc tế trước khi đặt các đơn hàng lớn hơn cho lực lượng quốc phòng Ấn Độ.

Có những khía cạnh khác của mối quan hệ được xem xét ở 2 lĩnh vực khác nhau. Trước tiên là việc chi tiêu quốc phòng và ngành công nghiệp quốc phòng của Việt Nam. Điều này sẽ cung cấp hiểu biết về các giao dịch mua sắm mà Việt Nam đã và đang thực hiện trên thị trường quốc tế và việc liệu ngành công nghiệp quốc phòng của Việt Nam có khả năng phục vụ lợi ích của mình trong dài hạn hay không. Các nhà máy đóng tàu Việt Nam đã phát triển năng lực đóng tàu cũng như đã xuất khẩu tàu lớn (30.000 đến 50.000 DWT) và tàu container (100.000 DWT) sang Hàn Quốc, Úc và các nước châu Âu, nhưng chủ yếu là cần cẩu, tàu chở dầu hoặc tàu container. Ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam cũng đã tham gia sản xuất súng bộ binh và thiết bị liên lạc quân sự. Điều này cho thấy rõ ràng rằng Việt Nam cần phát triển công nghiệp quốc phòng trên quy mô lớn để đáp ứng yêu cầu và chuẩn bị cho tương lai. Vũ khí quốc phòng của Việt Nam chủ yếu có nguồn gốc từ Liên Xô và Nga, và trong một kịch bản như vậy, Ấn Độ đóng vai trò là đối tác khả thi để thiết lập cơ sở công nghiệp quốc phòng vì họ có nhiều kinh nghiệm trong việc sản xuất vũ khí và máy bay cấp quyền từ Nga.

Về những hạn chế, có một vài vấn đề liên quan đến chính sách xuất khẩu quốc phòng của Ấn Độ và khả năng hạn chế của Việt Nam trong lĩnh vực quốc phòng. Tên lửa Brahmos và các thiết bị quan trọng khác là vấn đề gây bất đồng giữa hai nước. Thông tin từ hai phía là khác nhau. Ấn Độ đã tuyên bố rằng có những bảo lưu từ phía Nga vì họ cảm thấy Việt Nam quan tâm đến tên lửa Yakhont (P-800 Oniks), loại tên lửa nền tảng để phát triển Brahmos; trong khi đó, Nga tuyên bố Ấn Độ trì hoãn việc bán tên lửa cho Việt Nam cho đến khi phiên bản Brahmos siêu thanh được phát triển.

Ấn Độ đã cung cấp gói tín dụng 500 triệu USD cho Việt Nam để nâng cấp ngành công nghiệp quốc phòng, nhưng Việt Nam đã không thể sử dụng số tiền này và trên thực tế đã yêu cầu Ấn Độ đa dạng hóa khoản tín dụng trên cho cả mục đích dân sự. Doanh số bán thiết bị quốc phòng như radar và các thiết bị không sát thương khác sẽ tạo ra thị trường cho Ấn Độ, nhưng đến nay Việt Nam vẫn chưa thể vạch ra một kế hoạch và quy trình ngân sách hoàn chỉnh để sử dụng các gói tín dụng này. Việt Nam cũng đã mở ra khả năng hợp tác với Ấn Độ trong việc phóng các vệ tinh quân sự và dân sự để giám sát và bảo vệ nhân sự của mình trên các đảo ở Biển Đông. Dự án vẫn đang trong giai đoạn đầu và có khả năng đẩy mối quan hệ lên một mức độ hợp tác cao hơn nhiều. Mặc dù không thể phủ nhận thực tế là hợp tác quốc phòng giữa hai nước đang phát triển, nhưng cần phải có một tầm nhìn chiến lược và một tư duy rõ ràng để đưa nó vào một quỹ đạo cao hơn.

Tiến sĩ Pankaj Jha thuộc Đại học toàn cầu Jindal Ấn Độ, đăng trên Diễn đàn An ninh và Khoa học Công nghệ, đại học Manipal, Ấn Độ. Bài viết đăng trên Diễn đàn an ninh và khoa học công nghệ (stsfor.org).

Trần Quang (gt)

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Dịch COVID-19 tác động đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Dịch COVID-19 tác động đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc

Trung Quốc đã cố gắng giải quyết một cách thận trọng mối quan hệ với Mỹ, đồng thời triển khai sức mạnh kinh tế và quân sự ngày càng gia tăng trên toàn thế giới. Dịch COVID-19 đã làm trầm trọng thêm căng thẳng trong quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ và đặt ra những câu hỏi về vai trò lãnh đạo toàn cầu của Bắc Kinh.

Đọc tiếp...

Trung Quốc-Hy vọng và lo sợ của Đông Nam Á

Trung Quốc-Hy vọng và lo sợ của Đông Nam Á

Trung Quốc được nhìn nhận là nước có ảnh hưởng lớn nhất về kinh tế tại khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, niềm tin của khu vực vào Trung Quốc đã suy giảm trong một vài năm qua dựa trên thái độ của quốc gia này đối với các vấn đề lợi ích chung.

Đọc tiếp...

Tiềm năng quan hệ Mỹ-ASEAN

Tiềm năng quan hệ Mỹ-ASEAN

Cuộc thăm dò dư luận gần đây nhất của ISEAS cho thấy Trung Quốc đang nhanh chóng giành được ưu thế kinh tế và chiến lược ở Đông Nam Á so với Mỹ. Do đó, để lấy lại lợi thế của mình tại khu vực này, Mỹ phải xác định lại các điều khoản cạnh tranh.

Đọc tiếp...

Hậu quả của việc Mỹ mất VFA với Philippines

Hậu quả của việc Mỹ mất VFA với Philippines

Việc chấm dứt Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng (VFA) với Philippines sẽ khiến Mỹ dễ bị tổn thương hơn nữa trước các chính sách chính trị và đối ngoại trong nước của các đồng minh hiệp ước khác.  

Đọc tiếp...

Thế giới không chỉ xoay quanh Mỹ và Trung Quốc

Thế giới không chỉ xoay quanh Mỹ và Trung Quốc

Từ lâu, “phạm vi ảnh hưởng” đã trở thành một khái niệm được coi trọng trong việc quản lý sự phức tạp của quan hệ nước lớn. Việc thiết lập phạm vi ảnh hưởng cần đến sự hiểu biết chung không chỉ giữa các nước lớn, mà cả giữa những nước đã nằm trong phạm vi ảnh hưởng của họ.

Đọc tiếp...

Cách Duterte biến Philippines thành quân cờ của Trung Quốc

Cách Duterte biến Philippines thành quân cờ của Trung Quốc

Để giành được những đồng đôla phát triển đất nước, Rodrigo Duterte đã gây tổn hại đến an ninh quốc gia của Philippines. Quyết định chính sách đối ngoại lớn đầu tiên của Duterte là bác bỏ chiến thắng mang tính lịch sử của Philippines trước Trung Quốc trong vụ kiện liên quan đến tranh chấp chủ quyền trên biển.

Đọc tiếp...

Hợp tác Nga - Trung trong cuộc chiến chống COVID-19

Hợp tác Nga - Trung trong cuộc chiến chống COVID-19

Sự ủng hộ, tình cảm tốt đẹp và quyết tâm mạnh mẽ của Nga chống dịch Covid-19 đã phản ánh sự hợp tác nhân đạo ngày càng sâu rộng giữa Nga và Trung Quốc, thể hiện tình hữu nghị và quan hệ đối tác hợp tác chiến lược để cùng nhau vượt qua những khó khăn trước mắt.

Đọc tiếp...

Liệu liên minh Mỹ-Philippines có tan vỡ?

Liệu liên minh Mỹ-Philippines có tan vỡ?

Việc chấm dứt Thỏa thuận Các lực lượng Thăm viếng Mỹ-Philippines (VFA) có thể khiến cả Đông Nam Á dậy sóng, không chỉ gây tổn hại cho quốc phòng Philippines mà còn tới chiến lược biển của Mỹ đối với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Thành công của quan hệ đối tác Mỹ-Ấn

Thành công của quan hệ đối tác Mỹ-Ấn

Sau 3 năm Trump giữ chức tổng thống, quan hệ đối tác chiến lược với Ấn Độ, mà các chính quyền Mỹ liên tiếp nhau đã nuôi dưỡng như một bức tường thành âm thầm chống lại Trung Quốc, không chỉ tiếp tục tồn tại mà còn phát triển nở rộ.

Đọc tiếp...

Tác động của COVID-19 đối với kinh tế Thái Lan, Indonesia và Ấn Độ

Tác động của COVID-19 đối với kinh tế Thái Lan, Indonesia và Ấn Độ

Virus corona đã và đang giáng một đòn mạnh vào các nền kinh tế châu Á, cho thấy rõ cái giá phải trả khi phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Ảnh hưởng của Trung Quốc và Mỹ ở Đông Nam Á

Ảnh hưởng của Trung Quốc và Mỹ ở Đông Nam Á

Cuộc khảo sát với các chuyên gia, học giả trong khu vực do Viện nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS-Yusof Ishak) thực hiện cho thấy cái nhìn mới mẻ và sâu sắc về mức độ ảnh hưởng của hai cường quốc thế giới là Mỹ và Trung Quốc đối với khu vực Đông Nam Á. 

Đọc tiếp...

Chính sách thân Bắc Kinh của Tổng thống Duterte va phải bức tường thành nCoV

Chính sách thân Bắc Kinh của Tổng thống Duterte va phải bức tường thành nCoV

Sự bùng phát của đại dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona (Covid-19) đã tác động không nhỏ tới kinh tế - xã hội của Philippines và gây áp lực cho chính sách thân Trung Quốc của chính quyền tổng thống Duterte.

Đọc tiếp...

Báo cáo trước Quốc hội Mỹ về đánh giá kinh tế và an ninh Mỹ- Trung

Báo cáo trước Quốc hội Mỹ về đánh giá kinh tế và an ninh Mỹ- Trung

Bất chấp những tham vọng ngày càng tăng của mình về định hình trật tự khu vực và thậm chí là trật tự toàn cầu, Bắc Kinh đang phải đối mặt với nhiều thách thức đối với các nỗ lực quản lý kinh tế, hiện đại hóa quân sự và ảnh hưởng chính trị vốn có thể hạn chế khả năng nước này đạt được các mục tiêu chính sách đối ngoại.  

Đọc tiếp...

Hậu quả địa chính trị của dịch nCoV

Hậu quả địa chính trị của dịch nCoV

Điều gì sẽ xảy ra nếu các kịch bản tồi tệ nhất về nCoV trở thành hiện thực và dịch bệnh này phát triển nhanh hơn so với các biện pháp phòng ngừa mà cộng đồng quốc tế và Trung Quốc đang triển khai? Dịch viêm đường hô hấp cấp do nCoV gây ra ở Trung Quốc có thể sẽ đạt đỉnh vào tháng này. Trong bối cảnh đó, hãy cùng nhau xem xét các hậu quả  địa chính trị và kinh tế của dịch bệnh này.

Đọc tiếp...

Thực chất Diễn đàn Công nghiệp Quốc phòng Nhật Bản-Philippines

Thực chất Diễn đàn Công nghiệp Quốc phòng Nhật Bản-Philippines

Nhật Bản và Philippines cuối cùng cũng đã tổ chức được vòng đầu tiên của Diễn đàn Công nghiệp Quốc phòng mới vào đầu tháng này. Mặc dù cơ chế này chỉ là một trong nhiều sự tiến triển trong quan hệ song phương, song có ý nghĩa đối với mối quan hệ an ninh, cũng như tổng thể mối quan hệ song phương nói chung.

Đọc tiếp...

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần cuối)

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần cuối)

Trước những áp lực của Mỹ và đồng minh, Trung Quốc đã chuyển hướng sang Nga. Tuy nhiên thực tế là Nga và Trung Quốc không phải là những đồng minh tự nhiên và họ nghi ngờ về từng động thái của nhau nhiều hơn là tin tưởng, điều này sẽ hủy hoại và làm cho bất kỳ thỏa thuận song phương nào mà họ có thể đạt được bị thất bại. Kết quả là Trung Quốc sẽ thấy mình thực sự bị cô lập và hoàn toàn phụ thuộc vào những nước mà họ đã kiểm soát để duy trì việc vận hành nền kinh tế của mình.

 

Đọc tiếp...

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần 2)

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần 2)

Bên cạnh những thách thức về kinh tế trong nước, Tập Cận Bình còn phải đối mặt với một nước Mỹ đang nhanh chóng mở rộng khả năng quân sự. Không dừng ở đó, ông Tập cũng phải đối mặt với các khả năng quân sự ngày càng mở rộng của Nhật Bản, Đài Loan và Philippines.  

Đọc tiếp...

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần 1)

Trung Quốc: Tứ cố vô thân (Phần 1)

Cơ hội “từ trên trời rơi xuống” dành cho Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế và thương mại thực sự đã qua. Hiện Trung Quốc đang vấp phải sự phản ứng dữ dội từ các nước trong khu vực và đặc biệt là từ Mỹ với một vị tổng thống dường như muốn đối đầu với Trung Quốc trên mọi mặt trận và bằng mọi cách.

Đọc tiếp...

Sách lược đầu tư của Mỹ vào Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Sách lược đầu tư của Mỹ vào Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ luôn là vấn đề được giới chiến lược, học thuật ở Trung Quốc và nước ngoài tập trung thảo luận và nghiên cứu. Nhưng những phân tích thực nghiệm cụ thể lại khá ít, tập trung quá nhiều vào lĩnh vực chính trị và an ninh. Bài viết sẽ tập trung vào sách lược cạnh tranh đầu tư cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ, phân tích mục tiêu, lộ trình và triển vọng phát triển của chiến lược này, đưa ra đánh giá mang tính thử nghiệm về tác động có thể có của chiến lược này đối với hợp tác “Vành đai và Con đường”.

Đọc tiếp...

Ý nghĩa chính trị trong chiến lược phòng thủ của Đài Loan

Ý nghĩa chính trị trong chiến lược phòng thủ của Đài Loan

Đài Loan sắp tới sẽ phải đối mặt với một thời kỳ đáng ngại. Chiến lược phòng thủ của Đài Loan đang trở nên phi logic trong khi Trung Quốc lại đang tiến gần tới khả năng thực hiện tuyên bố “thống nhất Đài Loan” của mình.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 6726 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin