17 - 7 - 2019 | 22:23
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home QUAN HỆ QUỐC TẾ Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung: Mục tiêu là công nghệ

Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung: Mục tiêu là công nghệ

Email In PDF.

Cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung nhận được nhiều sự chú ý, nhưng nó ẩn dấu một “cuộc chiến công nghệ” lớn hơn nhằm tranh giành sự đổi mới trong thế kỷ 21.

 

 

Trong vài tuần gần đây, Mỹ đã đẩy mạnh cuộc chiến thương mại của họ với Trung Quốc bằng việc đưa ra hai biện pháp mới. Thứ nhất, Tổng thống Trump ký một mệnh lệnh hành pháp được kỳ vọng là sẽ hạn chế hai công ty viễn thông Trung Quốc Huawei và Tập đoàn ZTE bán thiết bị và dịch vụ của họ ở Mỹ. Thứ hai, Bộ Thương mại Mỹ liệt Huawei vào danh sách đen về kiểm soát hàng xuất khẩu, cấm các cá nhân và doanh nghiệp Mỹ bán hàng hóa cho các công ty này mà không có giấy phép từ Chính phủ Mỹ. Một giấy phép như vậy có thể bị từ chối “nếu hoạt động buôn bán hoặc chuyển giao sẽ gây hại đến an ninh quốc gia và các lợi ích chính sách đối ngoại của Mỹ”.

Trong một bài viết mới, nhóm tác giả lập luận rằng các động thái địa kinh tế này phản ánh cuộc cạnh tranh về công nghệ đang gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc, có tiềm năng tái định hình triệt để chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu và sự quản trị kinh tế quốc tế. Bằng cụm từ “địa kinh tế”, nhóm tác giả muốn nhắc đến “việc sử dụng các công cụ kinh tế để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích quốc gia, và tạo ra những kết quả địa chính trị có lợi”. Mặc dù cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung nhận được nhiều sự chú ý, nhưng nó ẩn dấu một “cuộc chiến công nghệ” lớn hơn nhằm tranh giành sự đổi mới trong thế kỷ 21. Mỹ hiện là nước lãnh đạo thế giới trong đổi mới công nghệ, điều họ đã sử dụng để kích thích cả lợi thế kinh tế lẫn ưu thế quân sự của mình. Hiện nay, họ đang phải đối mặt với một kẻ thách thức về công nghệ trong hình hài Trung Quốc, điều đang khiến Mỹ phải tiến hành các biện pháp che chắn, kiềm chế và khích lệ để bảo vệ lợi thế đổi mới của mình.

Một số nhà bình luận Mỹ miêu tả căng thẳng tăng cao giữa Trung Quốc và Mỹ như là một cuộc chiến tranh lạnh mới mà ở đó hai siêu cường kinh tế có thể tìm cách tách rời nền kinh tế của họ nói chung để hạn chế sự phụ thuộc lẫn nhau về thương mại, đầu tư và tài chính. Tuy nhiên, việc xuất hiện sự đối địch chiến lược Mỹ-Trung nhiều khả năng hơn sẽ dẫn đến việc hai siêu cường tìm cách phát triển cái mà Thomas Wright gọi là “các trường độc lập” trong các lĩnh vực then chốt nhất định, như công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Mặc dù không bao giờ có thể chắc chắn về tương lai, nhưng dường như thể hai đối thủ này đang hướng đến một dạng “phụ thuộc lẫn nhau có quản lý” mang tính cạnh tranh và hợp tác thay vì hoàn toàn cô lập hay hoàn toàn hòa nhập.

Sự cấp thiết phải đổi mới của Trung Quốc: Sản xuất, giao dịch và chiếm đoạt

Trong những thập kỷ gần đây, Trung Quốc đã có những bước tiến lớn, giúp rất nhiều người thoát nghèo bằng việc trở thành trung tâm chế tạo của thế giới. Là một nước lớn đang nổi lên, Trung Quốc phải đối mặt với “sự cấp thiết phải đổi mới”: Họ cần phải có được và phát triển các công nghệ mới để có tăng trưởng dài hạn, tiếp tục tiến lên chuỗi giá trị toàn cầu của mình và tự vũ trang cho mình trước một đối thủ chiến lược chi phối với các khả năng quân sự tiên tiến hơn. Trung Quốc tìm cách kéo gần khoảng cách công nghệ này thông qua một sự kết hợp mà Andrew Kennedy và Darren Lim mô tả là sản xuất, giao dịch và chiếm đoạt:

Sản xuất bao gồm việc hỗ trợ các công ty trong nước trong việc phát triển năng lực đổi mới và sản xuất ở bản địa để Trung Quốc có thể tự lực hơn khi sáng tạo và sản xuất các công nghệ mới. Chẳng hạn, chính sách công nghiệp “Made in China 2025” tìm cách kích thích sự đổi mới và tiến bộ công nghệ của Trung Quốc trong các lĩnh vực công nghệ then chốt đang nổi lên.

Giao dịch bao gồm việc hoàn thành các giao dịch thương mại với các thực thể nước ngoài mà dẫn đến việc chuyển giao công nghệ then chốt. Mục tiêu này có thể đạt được qua việc các công ty Trung Quốc mua hoặc đầu tư vào các công ty công nghệ nước ngoài, hoặc bằng việc chính phủ yêu cầu các công ty nước ngoài muốn đầu tư vào Trung Quốc phải làm việc với các công ty trong nước hoặc chuyển giao một số tài sản trí tuệ của họ để đổi lấy quyền tiếp cận thị trường.

Chiếm đoạt có nghĩa là đạt được công nghệ hiện có từ nước ngoài và các công ty nước ngoài mà không phải trả tiền. Mục tiêu này có thể được hiện thực hóa thông qua các biện pháp hợp pháp, như thu thập nguyên liệu đến từ nguồn mở như các tài liệu khoa học đã công bố hoặc cử sinh viên Trung Quốc đi học ở nước ngoài, hoặc thông qua các biện pháp bất hợp pháp như đánh cắp tài sản trí tuệ từ các chính phủ và đối thủ nước ngoài.

Ưu thế công nghệ của Mỹ: Che chắn, kiềm chế và khích lệ

Cho đến gần đây, Mỹ khá là khinh thường khi nói tới năng lực đổi mới của Trung Quốc, nhìn nhận Trung Quốc là một “nước bắt chước” mà chỉ có thể đánh cắp hoặc ăn trộm những đổi mới công nghệ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Trung Quốc đã đầu tư đáng kể vào nghiên cứu và phát triển, và các công ty Trung Quốc đã có những bước tiến đầy ấn tượng trong một loạt lĩnh vực, trong đó có ICT và trí tuệ nhân tạo (AI). Khi Trung Quốc tìm cách tự tiến lên, hiện Mỹ phải đối mặt với một sự cấp thiết phải duy trì “ưu thế công nghệ” của họ. Theo đó, Mỹ có lợi ích trong việc bảo vệ vai trò chi phối công nghệ hiện có của mình, cản trở những tham vọng công nghệ của một Trung Quốc sắp trở thành đối thủ và tăng cường sự tiến bộ công nghệ để đảm bảo duy trì tiếp tục lợi thế của họ.

Khó có thể phát triển một chiến lược cố kết về cách thức bảo vệ lợi thế công nghệ của Mỹ. Một trong những vấn đề chính là các quan điểm khác nhau về việc liệu sự mở cửa trong thương mại, đầu tư và nghiên cứu phát triển với một đối thủ kinh tế và chiến lược có là một nguy cơ an ninh (vì khả năng xảy ra chuyển giao tri thức và nguyên liệu) hay là một thành quả an ninh (vì nó củng cố các ngành công nghiệp phát đạt mà sau đó được đặt vào vị trí lý tưởng để duy trì lợi thế đổi mới của chúng). Chẳng hạn, nghiên cứu của Hugo Meijer về các biện pháp kiểm soát xuất khẩu của Mỹ so sánh quan điểm của “Những kẻ hiếu chiến kiểm soát”, những người tin rằng việc xuất khẩu các công nghệ có tính nhạy cảm cho các đối thủ là một nguy cơ an ninh, với quan điểm của những người ủng hộ chính sách “Tiến nhanh hơn”, lập luận rằng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu nghiêm ngặt thực tế có thể đe dọa an ninh Mỹ vì làm xói mòn tính cạnh tranh của nền tảng công nghiệp thương mại mà Lầu Năm Góc dựa vào đó để có công nghệ phòng thủ tiên tiến.

Bất kỳ chiến lược nào của cường quốc công nghệ đương nhiệm cũng sẽ phụ thuộc vào các quan điểm đang thắng thế để tạo thế cân bằng hiệu quả nhất giữa việc mở cửa và đóng kín. Trong một vài thập kỷ qua, những người ủng hộ “Tiến nhanh hơn” đã chiếm ưu thế, dẫn đến các chính sách tương đối cởi mở đối với các biện pháp như hoan nghênh các sinh viên và người lao động nước ngoài, và cho phép người nước ngoài được mua, cả trong các lĩnh vực STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học) và lĩnh vực công nghệ. Tuy nhiên, vì những tiến bộ công nghệ của Trung Quốc đã kích động nỗi sợ hãi của Mỹ, nên cán cân này dường như thay đổi nghiêng hơn về quan điểm “Người hiếu chiến kiểm soát”. Ở bất kỳ lĩnh vực nào mà cán cân này rốt cục được cân bằng, chúng ta nên hy vọng rằng cường quốc đương nhiệm sẽ tìm cách bảo vệ vai trò lãnh đạo của họ thông qua sự kết hợp nào đó của cái gọi là che chắn, kiềm chế và khích lệ:

Che chắn bao gồm bảo vệ tri thức công nghệ trong nước khỏi bị đối thủ đánh cắp và khỏi bị giao dịch thương mại. Những người hiếu chiến kiểm soát sẽ lập luận ủng hộ việc kiểm soát chặt chẽ hơn đối với một loạt hoạt động của các đối thủ nước ngoài, trái lại, những người ủng hộ “Tiến nhanh hơn” có thể đề xuất vạch ra một loạt hạn chế hơn những cách hành xử có thể bị phản đối và giám sát chúng một cách chặt chẽ. Trong thực tế hoạt động hiện nay của Mỹ, che chắn bao gồm khởi kiện các kiều dân và công ty Trung Quốc vì tội gián điệp công nghiệp; chống lại “ép buộc chuyển giao công nghệ”; hạn chế phạm vi mà các trường đại học của Mỹ thực hiện nghiên cứu cộng tác về công nghệ “nhạy cảm” với các cộng sự Trung Quốc; và mở rộng hoạt động của Ủy ban đầu tư nước ngoài ở Mỹ (CFIUS) để cho phép việc đánh giá và ngăn chặn, trong số những cái khác, tất cả hoạt động đầu tư nước ngoài chủ động ở bất kỳ công ty nào có liên quan đến “công nghệ then chốt” (trong đó có “các công nghệ đang nổi lên và mang tính nền tảng), “cơ sở hạ tầng then chốt” hoặc “dữ liệu cá nhân nhạy cảm của các công dân Mỹ mà có thể bị lợi dụng theo cách đe dọa đến ninh quốc gia”.

Kiềm chế bao gồm việc thực hiện những hành động nhằm ngăn chặn năng lực sản xuất của đối thủ chiến lược. Thực tế hoạt động của Mỹ về khía cạnh này bao gồm việc áp đặt các khoản thuế đơn phương với ý định, trong số những thứ khác, gây áp lực buộc Trung Quốc phải điều tiết các chính sách công nghiệp hỗ trợ các ngành công nghiệp công nghệ cao; thông qua các biện pháp kiểm soát xuất khẩu mới đối với “các công nghệ đang nổi lên và mang tính nền tảng” nhằm ngăn chặn việc chuyển giao các công nghệ thế hệ tiếp theo, như máy tính lượng từ, người máy và trí tuệ nhân tạo; cấm bán các linh kiện như chất bán dẫn cho các công ty Trung Quốc như ZTE và Huawei; và tìm cách ngăn chặn việc mua hoặc ứng dụng công nghệ của Trung Quốc như Huawei và 5G ở trong nước và nước ngoài. Mặc dù theo quan điểm thương mại quốc tế và luật đầu tư, việc công khai thừa nhận việc tìm cách kiềm chế sự cạnh tranh của nước ngoài có thể có vấn đề, nhưng lý do này ngày càng xuất hiện nhiều trong các nguồn của Mỹ như một lời giải thích cho các chính sách kinh tế mà Mỹ đang hoặc nên áp dụng để chống lại Trung Quốc.

Khích lệ có nghĩa là tìm cách kích thích đổi mới công nghệ, chẳng hạn bằng cách tăng quỹ nghiên cứu và phát triển của chính phủ, thông qua một chính sách công nghiệp sâu rộng hơn, thu hút nhân tài giỏi nhất từ khắp thế giới và tìm cách đảm bảo các công ty trong nước có một lợi thế cạnh tranh ở các thị trường nước ngoài. Mỹ đã nỗ lực để mở cửa các thị trường nước ngoài cho các công ty của mình và có một lịch sử bền vững trong việc thu hút và giữ chân nhân tài nước ngoài, nhưng sự hỗ trợ của Mỹ cho quỹ nghiên cứu và sức mạnh cũng như sự cố kết của chính sách công nghiệp đã suy giảm qua nhiều năm, dẫn đến các cuộc tranh luận đang diễn ra về việc liệu các biện pháp như vậy có nên được khôi phục hay không. Các nhà khoa học chính trị đã xác định “bất ổn sáng tạo” là một nhân tố then chốt trong việc khích lệ đổi mới công nghệ, điều xảy ra khi nhận thức của một nhà nước về các mối đe dọa an ninh bên ngoài có ảnh hưởng hơn là trở ngại của những cuộc chiến phân phối nội bộ giữa các bên lợi ích trong nước.

Các biện pháp mới mà Mỹ thông qua gần đây là các hình thức che chắn (bảo vệ thị trường trong nước của Mỹ trước hoạt động mua bán của Huawei và ZTE trong nước Mỹ) và kiềm chế (nỗ lực làm xói mòn tăng trưởng và sự phát triển của các công ty ICT Trung Quốc đang hoạt động trên khắp thế giới). Các hành động khác, như hạn chế chuyển giao tri thức thông qua những hạn chế đối với sinh viên và nghiên cứu sinh Trung Quốc học ngành STEM đang học tập và làm việc ở Mỹ, có thể có các yếu tố vừa che chắn (ngăn chặn việc Trung Quốc đánh cắp công nghệ hiện có) và kiềm chế (làm chậm quá trình đổi mới của Trung Quốc thông qua việc hạn chế nhân lực). Nhưng điều quan trọng cần lưu ý là vẫn có nhiều người ủng hộ một cách tiếp cận cởi mở hơn, đặc biệt là khi đề cập đến việc hoan nghênh các sinh viên và người lao động nước ngoài để thu hút những nhân tài giỏi nhất trên toàn cầu đến Mỹ nhằm kích thích năng lực đổi mới của họ.

Hành động và phản ứng: Hướng tới các trường độc lập

Một số nhà bình luận Mỹ lập luận rằng các biện pháp che chắn, kiềm chế và khích lệ là cần thiết để hai nền kinh tế có thể được “tách rời” và chống lại “chủ nghĩa dân tộc công nghệ” của Trung Quốc một cách hiệu quả. Đáp lại những hành động như vậy, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngày càng viện dẫn tầm quan trọng của “tự lực cánh sinh”. Theo Tập Cận Bình: “Chỉ bằng cách chính tay chúng ta làm chủ các công nghệ nòng cốt mang tính then chốt, chúng ta mới có thể bảo vệ về căn bản an ninh kinh tế quốc gia, an ninh quốc gia của mình và an ninh ở các khu vực khác”. Do đó, các hành động tấn công và phòng vệ của cường quốc công nghệ đương nhiệm có thể kích động kẻ thách thức công nghệ có những động thái tấn công và phòng vệ hơn nữa, và cả hai đều có thể gia tăng mức độ và khát khao độc lập.

Sự đối địch về kinh tế và công nghệ Mỹ-Trung có khả năng gia tăng khi dữ liệu trở thành một đấu trường trung tâm, xét tới các lợi ích kinh tế và rủi ro an ninh không biết rõ và có tiềm năng vượt mức mà nó sở hữu. Chẳng hạn, gần đây, CFIUS yêu cầu các công ty Trung Quốc từ bỏ Grindr (một ứng dụng hẹn hò đồng giới nam) và PatientsLikeMe (một ứng dụng sức khỏe cá nhân) vì những quan ngại về việc tiếp cận dữ liệu nhạy cảm. Trung Quốc tuyên bố dữ liệu lớn là một “nguồn lực chiến lược căn bản” và tìm cách bảo vệ tài sản chiến lược này bằng việc yêu cầu khoanh vùng hóa dữ liệu ở trong nước, phù hợp với chính sách rộng lớn hơn của Trung Quốc là bảo vệ “chủ quyền không gian mạng” của mình.

Về mặt kinh tế, Chính phủ Trung Quốc tìm cách sử dụng việc khoanh vùng hóa dữ liệu để đem lại lợi thế cho các công ty Trung Quốc so với các công ty phương Tây. Về mặt chiến lược, khoanh vùng hóa dữ liệu giúp đảm bảo rằng các chính phủ phương Tây không thể tiếp cận dữ liệu của Trung Quốc, một nỗi sợ hãi đã trở thành bản năng đối với các nước như Trung Quốc và Nga sau những tiết lộ của gián điệp Snowden. Hơn nữa, khoanh vùng hóa dữ liệu có thể vừa mang tính phòng vệ (bảo vệ trước hoạt động gián điệp hay can thiệp của Mỹ) hoặc mang tính tấn công. Trong trường hợp tấn công, khoanh vùng hóa có thể giúp bảo vệ lợi thế dữ liệu lớn của Trung Quốc, mà đổi lại sẽ cho nước này một khởi đầu trong việc phát triển AI với tiềm năng gặt hái được những lợi ích kinh tế và quân sự lớn. Và nó có thể tạo điều kiện cho Chính phủ Trung Quốc tiếp cận dữ liệu này phù hợp với Luật tình báo quốc gia và Luật chống gián điệp của họ, mà yêu cầu các cá nhân và công ty Trung Quốc phải tuân thủ những yêu cầu về thông tin liên quan đến công việc tình báo và chống gián điệp.

Kết luận

Trên nhiều lĩnh vực, từ các biện pháp kiểm soát xuất khẩu, sàng lọc đầu tư, đến khoanh vùng hóa dữ liệu, những sự phát triển này cho thấy Mỹ và Trung Quốc đang thực hiện các bước đi tích cực để giảm thiểu sự phụ thuộc lẫn nhau của hai nền kinh tế bằng việc tiến tới các trường độc lập lớn hơn trong các lĩnh vực chiến lược cụ thể, như ICT và các chuỗi cung ứng quân sự. Vấn đề không phải là sự phụ thuộc lẫn nhau đối chọi với sự độc lập; thay vào đó, đây là vấn đề về mức độ phụ thuộc lẫn nhau và độc lập nào được mong muốn và có thể xảy ra, ở lĩnh vực nào và cần đề phòng những gì. Đây là những vấn đề quan trọng mà hai quốc gia và các công ty phải xem xét trong thời gian tới.

Anthea Roberts là giáo sư Trường Luật pháp và Quản trị Toàn cầu (RegNet), Đại học Quốc gia Úc. Henrique Choer Moraes là nhà ngoại giao Brazil, nghiên cứu sinh tại Trung tâm Nghiên cứu Quản trị Toàn cầu Leuven (Bỉ). Victor Ferguson đang hoàn thành luận án tiến sĩ chủ đề về “chiến tranh pháp lý về kinh tế” tại Dại học Quốc gia Úc. Bài viết được đăng trên Lawfare.

Trần Quang (gt)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Báo cáo đặc biệt: Sức mạnh hệ thống tên lửa – Trung Quốc dẫn đầu, Mỹ tăng tốc

Báo cáo đặc biệt: Sức mạnh hệ thống tên lửa – Trung Quốc dẫn đầu, Mỹ tăng tốc

Dưới thời Tập Cận Bình, Bắc Kinh đã nâng tầm các lực lượng tên lửa của họ đến mức nhiều tên lửa trong kho vũ khí của Trung Quốc giờ đây ngang ngửa hoặc vượt trội so với các tên lửa Mỹ. Sự thay đổi mạnh mẽ này có thể khiến các tàu sân bay Mỹ - vốn là xương sống của uy thế quân sự Mỹ - trở nên lỗi thời trong một cuộc xung đột với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Việt Nam trong chính sách Hành động hướng Đông của Ấn Độ

Việt Nam trong chính sách Hành động hướng Đông của Ấn Độ

Theo chính sách Hành động hướng Đông, Việt Nam sẽ vẫn là điểm đến quan trọng cho các dự án phát triển, thương mại và đầu tư của Ấn Độ.

Đọc tiếp...

Chính sách Hành động hướng Đông và Chiến lược SVIMM của Ấn Độ

Chính sách Hành động hướng Đông và Chiến lược SVIMM của Ấn Độ

Chiến lược SVIMM (Singapore, Việt Nam, Indonesia, Myanmar và Malaysia ) có một số mục đích cố hữu theo quan điểm của Ấn Độ. Singapore, Malaysia và Indonesia là những bên tham gia liên quan đến an ninh eo biển Malacca.y. Trong khi đó, Myanmar và Việt Nam rất quan trọng đối với Ấn Độ về mặt hợp tác chống khủng bố và vai trò trọng yếu về các mục đích quốc phòng và hoạt động thăm dò khí đốt của Ấn Độ ở biển Biển Đông.

Đọc tiếp...

Quan hệ Trung Quốc-Malaysia quay trở lại lộ trình?

Quan hệ Trung Quốc-Malaysia quay trở lại lộ trình?

Sau khi Thủ tướng Mahathir lên nắm quyền (tháng 5/2018), đã có những nghi ngờ thực sự về vị thế của các siêu dự án Trung Quốc tại Malaysia. Tuy nhiên, trước và trong chuyến thăm thứ 2 của Mahathir tới Trung Quốc vào tháng 4/2019, những mối hoài nghi như vậy đã được xóa bỏ.

Đọc tiếp...

Cạnh tranh Mỹ-Trung: Chiến tranh lạnh kiểu mới?

Cạnh tranh Mỹ-Trung: Chiến tranh lạnh kiểu mới?

Ba thập kỷ sau khi Liên Xô sụp đổ, thời điểm đơn cực đã kết thúc. Tại Trung Quốc, Mỹ phải đối mặt với một đối thủ rất lớn và khao khát trở thành số một. Quan hệ kinh doanh và lợi nhuận, những cái trước đây giúp củng cố mối quan hệ, đã trở thành cái để cạnh tranh.

Đọc tiếp...

Khai thác tiềm năng hợp tác quốc phòng to lớn giữa Ấn Độ và Việt Nam

Khai thác tiềm năng hợp tác quốc phòng to lớn giữa Ấn Độ và Việt Nam

Mặc dù không thể phủ nhận thực tế là hợp tác quốc phòng giữa hai nước đang phát triển, nhưng cần phải có một tầm nhìn chiến lược và một tư duy rõ ràng để đưa nó vào một quỹ đạo cao hơn.

Đọc tiếp...

Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung: Mục tiêu là công nghệ

Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung: Mục tiêu là công nghệ

Cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung nhận được nhiều sự chú ý, nhưng nó ẩn dấu một “cuộc chiến công nghệ” lớn hơn nhằm tranh giành sự đổi mới trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp...

Sẽ là sai lầm khi nghĩ về một cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Trung?

Sẽ là sai lầm khi nghĩ về một cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Trung?

Việc bao vây kinh tế do Mỹ đứng đầu sẽ buộc Trung Quốc phải tạo ra khối kinh tế tự cung tự cấp của chính mình. Điều này sẽ làm tổn thương đến nhiều nền kinh tế châu Á vốn có quan hệ làm ăn với Trung Quốc và Mỹ, bao gồm cả Nhật Bản.

Đọc tiếp...

Chiến lược “phòng bị nước đôi” của Trung Quốc ở vùng Vịnh

Chiến lược “phòng bị nước đôi” của Trung Quốc ở vùng Vịnh

Bắc Kinh đang thực hiện chiến lược “phòng bị nước đôi” ở vùng Vịnh, vừa tìm cách xây dựng mối quan hệ bền chặt với từng quốc gia trong khu vực tại thời điểm mà cam kết của Mỹ với Trung Đông đang bị hoài nghi. Trong bối cảnh BRI tiếp tục được định hình ở Trung Đông, người ta kỳ vọng mối quan hệ hợp tác rộng mở hơn.

Đọc tiếp...

Con đường Tơ lụa trên Biển Mới Thế kỷ 21: Hệ quả Địa chính trị đối với các quốc gia Đông Nam Á

Con đường Tơ lụa trên Biển Mới Thế kỷ 21: Hệ quả Địa chính trị đối với các quốc gia Đông Nam Á

Bài viết tóm tắt khái niệm và các động cơ của Trung Quốc nói chung trong MSR Thế kỷ 21, đồng thời trình bày chi tiết sự tham gia của các nước Đông Nam Á vào dự án cũng như các hệ quả về địa chính trị mà hợp tác này mang lại cho khu vực.

Đọc tiếp...

Thế khó xử của Philippines đối với vốn đầu tư Trung Quốc

Thế khó xử của Philippines đối với vốn đầu tư Trung Quốc

Rủi ro chính trị cao trong khi lợi nhuận thu về khá thấp khiến phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài không muốn đầu tư vào các lĩnh vực tạo ra việc làm quan trọng, do đó các quốc gia đang phát triển tại châu Á không còn nhiều lựa chọn khi nguồn vốn đầu tư Trung Quốc đang vẫy gọi.

Đọc tiếp...

Đông Nam Á và sự cạnh tranh Mỹ-Trung

Đông Nam Á và sự cạnh tranh Mỹ-Trung

Ngày 15/11/2018, Thủ tướng Lý Hiển Long từng nói: “Tôi nghĩ việc chúng ta không phải chọn đứng về phe nào là đáng mơ ước, nhưng có thể xảy ra tình huống ASEAN phải lựa chọn phe này hay phe khác. Tôi hy vọng điều đó không sớm xảy ra”.

Đọc tiếp...

Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương: Cân nhắc các lợi ich chiến lược của Trung Quốc-Ấn Độ

Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương: Cân nhắc các lợi ich chiến lược của Trung Quốc-Ấn Độ

Bài nghiên cứu phân tích các vấn đề địa chiến lược biển đang nổi tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong bối cảnh Mỹ-Trung đang cạnh tranh nhằm có được ưu thế vượt trội trên biển. Thêm vào đó, bài nghiên cứu cũng tập trung vào các biện pháp của Ấn Độ để đối phó với các động thái trên biển và chiến thuật hải quân của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nhật Bản thách thức Trung Quốc ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Nhật Bản thách thức Trung Quốc ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Nếu có một nhân vật duy nhất đóng vai trò lớn nhất trong việc mang lại kỷ nguyên Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, thì người ta có thể cho rằng đó là Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe. Với tư tưởng kiên định không ai sánh kịp, ông đã tận tâm cải tổ không chỉ chính sách đối ngoại của Nhật Bản hậu Chiến tranh thế giới thứ hai, mà còn cả trật tự thế giới hậu Mỹ đang nổi lên.

Đọc tiếp...

Can dự: Biện pháp đối phó hiệu quả nhất với Triều Tiên

Can dự: Biện pháp đối phó hiệu quả nhất với Triều Tiên

Bài phỏng vấn Tiến sĩ Chung-in Moon, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Moon Jae-in về các vấn đề thống nhất, ngoại giao và an ninh quốc gia. Tiến sĩ Chung-in Moon được biết đến rộng rãi như là một trong những chuyên gia hàng đầu về quan hệ liên Triều cũng như nhờ đóng góp của ông về học thuật và hoạt động trong chính phủ.

Đọc tiếp...

Hội nghị Mỹ-Triều lần hai: Vai trò của Trung Quốc và Hàn Quốc

Hội nghị Mỹ-Triều lần hai: Vai trò của Trung Quốc và Hàn Quốc

Trong các cuộc đàm phán Mỹ-Triều, vai trò của Trung Quốc là đem lại cảm giác an toàn cho Triều Tiên khi đàm phán trực tiếp với Mỹ, trong khi đó, Hàn Quốc sẽ đóng vai trò là một kênh đối thoại gián tiếp giữa Mỹ và Triều Tiên, cũng như làm “chất xoa dịu” để giảm bớt những căng thẳng có thể leo thang theo giai đoạn.

Đọc tiếp...

Quan hệ Trung Quốc-Ấn Độ trong năm 2019 sẽ ra sao?

Quan hệ Trung Quốc-Ấn Độ trong năm 2019 sẽ ra sao?

Trong bối cảnh quan hệ Trung Quốc-Ấn Độ đang đi xuống do hai bên còn nghi kị lẫn nhau, điều hai nước nên làm trong năm 2019 là tiến hành một cuộc đối thoại chiến lược có ý nghĩa và mang tính bao quát. Nếu có thể, cơ chế đối thoại chiến lược giữa hai nước hiện nay có thể được nâng cấp thành một cơ chế mới và toàn diện.

Đọc tiếp...

"Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở" cần sự đồng thuận

Hiện vẫn chưa có sự đồng thuận về ý tưởng bao trùm sáng kiến kiến "Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở" cũng như chưa rõ các cấu trúc cần thiết cho việc thực thi. Nói đúng hơn là mọi thứ vẫn còn rất mơ hồ. ASEAN và các quốc gia khác nên tham gia vào FOIP để đóng góp cho công cuộc xây dựng nó và hình thành được một trật tự khu vực mang tính tổng thể hơn.

Đọc tiếp...

Từ bỏ NATO và bảo vệ châu Âu mới - Hướng đi tiếp theo của Mỹ?

Từ bỏ NATO và bảo vệ châu Âu mới - Hướng đi tiếp theo của Mỹ?

Mỹ nên hợp tác với NATO với tư cách không phải là thành viên của tổ chức này, và tập trung vào các nguồn lực hữu hạn mà Mỹ có thể đạt được, từ những cuộc cạnh tranh quan trọng mà Mỹ phải đối mặt với Trung Quốc ở Thái Bình Dương đến những quốc gia ở châu Âu mới vẫn có ý chí chiến đấu, và vẫn mang theo ngọn đuốc của nền văn minh phương Tây. Đọc tiếp...

Campuchia ở trung tâm của một cuộc chiến tranh lạnh mới

Campuchia ở trung tâm của một cuộc chiến tranh lạnh mới

Khi cuộc cạnh tranh siêu cường giành tầm ảnh hưởng khu vực đạt tới một cường độ mới, có lẽ Campuchia sẽ nhận thấy mình ở trung tâm của một cuộc chiến tranh lạnh mới ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7192 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin