17 - 7 - 2019 | 22:22
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home QUAN HỆ QUỐC TẾ Con đường Tơ lụa trên Biển Mới Thế kỷ 21: Hệ quả Địa chính trị đối với các quốc gia Đông Nam Á

Con đường Tơ lụa trên Biển Mới Thế kỷ 21: Hệ quả Địa chính trị đối với các quốc gia Đông Nam Á

Email In PDF.

Bài viết tóm tắt khái niệm và các động cơ của Trung Quốc nói chung trong MSR Thế kỷ 21, đồng thời trình bày chi tiết sự tham gia của các nước Đông Nam Á vào dự án cũng như các hệ quả về địa chính trị mà hợp tác này mang lại cho khu vực.

 

 


 

Tóm tắt

Một trong những nhân tố quan trọng của sáng kiến Một Vành đai, Một con đường (OBOR) do Trung Quốc đưa ra vào năm 2013 là khái niệm Con đường Tơ lụa trên Biển (MSR) thế kỷ 21. Bài viết tóm tắt khái niệm và các động cơ của Trung Quốc nói chung trong MSR Thế kỷ 21, đồng thời trình bày chi tiết sự tham gia của các nước Đông Nam Á vào dự án cũng như các hệ quả về địa chính trị mà hợp tác này mang lại cho khu vực. Trong số các quốc gia ASEAN, Indonesia thể hiện sự hào hứng mạnh mẽ nhất đối với các kế hoạch của Trung Quốc, Malaysia, Myanmar và Philippines cũng có mong muốn tham gia các dự án do Trung Quốc dẫn dắt. Bài viết kết luận, MSR có ý nghĩa quan trọng về mặt địa chính trị vì nó đã trở thành nhân tố quyết định trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Đối với các nước ASEAN, MSR đặc biệt thể hiện mục đích chiến lược rõ ràng hơn: việc củng cố ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực ở cả khía cạnh kinh tế và chính trị chiếm vị trí ưu tiên do quan hệ cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc.

Từ khoá: Trung Quốc, Đông Nam Á, Một Vành đai Một Con đường, Con đường Tơ lụa trên Biển mới, địa chính trị

1. Giới thiệu

Một trong những nhân tố quan trọng của sáng kiến Một Vành đai, Một con đường (OBOR) do Trung Quốc đưa ra vào năm 2013 là khái niệm Con đường Tơ lụa trên Biển (MSR) thế kỷ 21. Mục đích của đại chiến lược này là nhằm cách mạng hoá tuyến đường thương mại biển sâu từ Đông Nam Á qua Châu Phi đến Châu Âu, và thúc đẩy phát triển kinh tế của các nước tham gia thông qua trợ giúp về phát triển hạ tầng kỹ thuật dọc theo đường bờ biển.

Trong số các quốc gia ASEAN, Indonesia thể hiện thái độ nhiệt tình nhất với các kế hoạch của Trung Quốc do mô hình cơ sở hạ tầng biển là một trong những mục tiêu chính trị quan trọng hàng đầu của Tổng thống Joko Widodo đối với quốc gia quần đảo này (Duquennoy and Zielonka, 2015). Bên cạnh đó, Malaysia, Myanmar và Philippines, sau lễ nhậm chức của Tổng thống Rodrigo Duterte vào tháng 6 năm 2016, cũng có mong muốn tham gia các dự án do Trung Quốc dẫn dắt. Trên thực tế, tất cả các quốc gia ven biển Đông Nam Á, ít nhiều đều có ý định tham gia trong quá trình kế hoạch này được triển khai.[i] Về mặt kinh tế, các nước Đông Nam Á chắc chắn có thể nhận được rất nhiều lợi ích từ sự thành công của Sáng kiến Một vành đai Một con đường. Đồng thời, cũng có thể thấy rất rõ rằng MSR cũng mang nhiều ý nghĩa về mặt địa chính trị do đây đã trở thành nhân tố quyết định trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc; hơn nữa, trong trường hợp các quốc gia ASEAN, sự tham gia vào MSR thể hiện ý nghĩa địa chính trị đậm nét hơn hẳn: Do quan hệ cạnh tranh giữa Mỹ - Trung Quốc, việc củng cố ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực ở cả khía cạnh kinh tế và chính trị chiếm vị trí ưu tiên.

Giả thiết bài viết đưa ra là thông qua MSR thế kỷ 21, Trung Quốc có khả năng dùng các công cụ kinh tế để khiến các nước ASEAN phụ thuộc vào mình, và trong trường hợp thành công, Trung Quốc có thể biến sự phụ thuộc này thành các lợi ích về địa chính trị. Mặc dù có sự hỗ trợ của Mỹ, các nước Đông Nam Á vẫn buộc phải hợp tác kinh tế với Trung Quốc; tuy nhiên, chính điều này sẽ khiến các quốc gia này phụ thuộc hơn vào vào Bắc Kinh. Hậu quả là, ảnh hưởng của Mỹ được cho là sẽ giảm đi và khu vực sẽ buộc phải chấp nhận chính sách của Trung Quốc hơn trước.

Trong bài viết này, tác giả trước tiên sẽ vạch ra các đặc điểm chính của dự án OBOR và tiếp theo sẽ mô tả về MSR thế kỷ 21. Mục đích chính của bài viết là phân tích một cách toàn diện thái độ của các các quốc gia Đông Nam Á đối với các ý tưởng của Trung Quốc, đặc biệt là trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và chiến lược. Việc trình bày các hệ quả về địa chính trị cần phải có sự liên hệ tới tranh chấp Biển Đông và quan hệ cạnh tranh Trung – Mỹ vì đây là nền tảng không thể thiếu để diễn giả hệ thống quan hệ giữa các quốc gia Đông Nam Á. Phần kết luận sẽ tái khẳng định giả thiết đưa ra đồng thời tóm tắt các nội dung quan trọng.

Bài viết cơ bản tập trung vào MSR và các tác động địa chính trị của nó đối với khu vực Đông Nam Á; vì vậy, nghiên cứu này sẽ không tiến hành phân tích kỹ lưỡng các mối quan hệ phức tạp giữa Trung Quốc, Đông Nam Á và Mỹ hay trình bày cụ thể về tranh chấp trên Biển Đông.

2. Sáng kiến Một Vành đai, Một Con đường

Vào mùa thu năm 2013, Trung Quốc đã tiến thêm một bước trong việc khẳng định vai trò toàn cầu của mình khi đưa ra sang kiến Một Vành đai, Một Con đường với mục tiêu đầy tham vọng là hồi sinh Tuyến đường Tơ lụa trên biển truyền thống. Sự gắn kết với truyền thống cũng như gợi nhớ về thời kỳ hoàng kim trong quá khứ của Trung Quốc được thể hiện rất rõ qua kế hoạch OBOR. Về mặt địa chính trị, có thể chỉ ra hai tuyến đường chính: Tuyến đường nối Trung Quốc với Bán đảo Triều Tiên và tuyến đường khác đi qua Biển Đông dọc theo bờ biển phía Nam và Đông Nam Á cho tới Vịnh Ba Tư. Các tuyến đường trên biển đã được sử dụng hàng ngàn năm trước, trước cả khi các tuyến đường trên bộ phát triển. Ở Trung Quốc, tuyến đường thương mại trên biển được quan tâm nhiều hơn vào triều Hán (209 trước Công nguyên tới 8 sau Công nguyên), và kể từ thế kỷ thứ 7, khi vai trò của các quốc gia Ả-rập tăng lên, mục đích an ninh và tài chính của các tuyến đường trên biển thường được đưa lên hàng đầu (Iftikhar and Abbasi 2016). Trong suốt thế kỷ thứ 15, hải trình của Đô đốc Trịnh Hoà đã là biểu tượng cho năng lực vĩ đại trên biển của Trung Quốc, các thuỷ thủ Trung Hoa đã đi tới bờ biển châu Phi, củng cố mở rộng các mối quan hệ địa chính trị. Theo ý nghĩa này, các tập đoàn tới đó có thể được coi như các đoàn tiền trạm ngày nay.

Bắc Kinh đã tự cam kết về việc xây dựng và nâng cấp hệ thống giao thông theo dấu các tuyến đường buôn nối châu Âu và châu Á trước đây, và một cách tự nhiên, đã thúc đẩy kết nối khu vực về mặt kinh tế. Về cơ bản, có thể coi đây là  một dự án phát triển quốc tế dài hạn do Trung Quốc quản lý (cấp ngân sách), đồng thời, dự án nãy cũng có khả năng đáp ứng các mục tiêu địa chính trị của Trung Quốc thông qua kết nối với các vùng xa xôi qua tuyến đường thương mại.

Sáng kiến Một Vành đai Một Con đường bao gồm hai dự án lớn: Vành đai Kinh tế trên bộ và MRS thể kỷ 21. Dự án Vành đai Kinh tế trên bộ hướng tới việc kết nối Trung Quốc với vùng Trung Á, Trung Đông và châu Âu trên đất liền trong khi MRS kết nối các tuyến đường trên biển quan trọng của châu Phi, châu Âu, châu Đại Dương, và khu vực Nam, Đông Nam Á. Hai dự án này không thể tách rời và mục đích được thực hiện song song (Scott, 2016). Mặc dù không cần bàn cãi về ý nghĩa quan trọng của đường cao tốc và đường sắt tốc độ cao, giao thông trên biển vẫn đóng vai trò chính ở khía cạnh mật độ qua lại. Vì vậy, trên bình diện toàn cầu, MSR thậm chí còn có ý nghĩa quan trọng hơn là “vành đai kinh tế” trên bộ.

Kế hoạch về MSR được công bố vào đầu tháng 10 năm 2013 trong một bài phát biểu của Chủ tịch Tập Cận Bình tại Quốc hội Indonesia. Người đứng đầu nhà nước Trung Hoa đã cam kết về sự cần thiết của việc xây dựng hạ tầng hiện đại trên biển và phát triển các tuyến đường giao thông, đặc biệt là giữa Trung Quốc và các nước ASEAN (Roell, 2016). Do Đông Nam Á được coi là trung tâm của tuyến đường dài này, đối với Trung Quốc, đây là khu vực đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Thời gian và địa điểm tuyên bố tất nhiên cũng không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Chính phủ Trung Quốc đã khởi động sáng kiến OBOR chỉ một vài tuần trước đó, và MSR được công bố tại Indonesia với tư cách bổ sung vào tuyến đường trên bộ, nói cách khác MSR đã là một bộ phận hữu cơ trong chiến lược chung bởi cả hai sẽ có tác dụng hoàn thiện lẫn nhau.

Theo Uỷ ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Trung Quốc, sáng kiến OBOR phù hợp với 5 nguyên tắc của Liên hợp Quốc: Tôn trọng lẫn nhau, không xâm lược lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, công bằng, cùng có lợi, và cùng tồn tại hoà bình (NDRC, 2015: II. Principles). Kết quả là, MSR Mới - tương tự như các dự án trên bộ - được hy vọng sẽ mở rộng phạm vi không chỉ đơn thuần dừng ở việc phát triển cơ sở hạ tầng do Trung Quốc cấp vốn (ví dụ như xây cảng và xưởng đóng tàu). Mục đích chính của kế hoạch này là để củng cố hợp tác khu vực, hội nhập về tài chính, thương mại tự do và hợp tác khoa học.[ii] Một cách tự nhiên, quốc gia thương mại lớn nhất thế giới này cũng không quên các điều kiện về tài chính. Các đầu tư trong kế hoạch sẽ do Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Châu Á (AIIB) và Ngân hàng MSR cấp vốn. Theo đó, Trung Quốc sẽ cấp một nửa số tiền 100 tỷ USD cho AIIB và 16 tỷ USD cho Ngân hàng MSR. Thêm vào đó, chính phủ Trung Quốc sẽ đặt cọc khoảng 40 tỷ USD cho Quỹ Con đường Tơ lụa (Foo, 2015).

Ban đầu, Bắc Kinh chỉ cân nhắc sự tham gia của các quốc gia dọc theo tuyến đường biển giữa Trung Quốc và châu Âu nhưng Kế hoạch Con đường Tơ lụa mới đựơc đưa ra năm 2015 đã cho thấy tham vọng lớn hơn. Kế hoạch hành động hướng tới việc đưa cả các quốc gia Nam Mỹ vào kế hoạch thông qua Ấn Độ Dương và Biển Đông (Putri, 2017).

Qua nhiều thế kỷ, MSR trong lịch sử đã tạo nên sự tương tác hoà bình giữa các nền văn hoá và văn minh, đóng góp vào sự phát triển của viễn thương cũng như đảm bảo tạo ra một hệ thống chính trị và kinh tế quốc tế mới, trong đó vai trò dẫn dắt của Trung Quốc là không phải bàn cãi. Khái niệm về MSR thế kỷ 21, được xây dựng dựa trên thành công trong quá khứ nhằm nỗ lực nhấn mạnh các hệ quả tích cực của toàn cầu hoá và hướng tới lợi ích chung, hợp tác hoà bình và phát triển bền vững của thế giới biển.[iii] 

3. Đông Nam Á và MSR Mới

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã nỗ lực hết sức để đạt được sự đồng thuận của các quốc gia khác trong việc thực hiện kế hoạch. Vào năm 2014 và năm 2015, thời điểm giới thiệu hai kế hoạch, MSR đã trở thành chủ đề trung tâm của Hội chợ thương mại Trung Quốc - ASEAN (Tiezzi, 2014). Việc các nguyên thủ quốc gia tham gia hội chợ cũng đã thể hiện điểm này. Nhìn chung, hầu hết các quốc gia liên quan đều phản ứng tích cực với sáng kiến của Trung Quốc. Cho tới thời điểm hiện tại, có hơn 50 quốc gia và tổ chức, bao gồm cả EU và ASEAN, đã tái khẳng định với Trung Quốc về sự ủng hộ của mình. Theo kế hoạch ban đầu, nhánh chính của MSR xuất phát từ Quảng Đông và sau đó đi dọc theo bở biển châu Á, các trạm dừng chính là Kuanta, Jakarta, Colombo và Calcuttaa và thông qua Mobassa, tại Biển Đỏ và Biển Địa Trung Hải, tuyến đường này sẽ tới châu Âu với điểm kết thúc là Athens (Duquennoy and Zielonka, 2015). Nhánh khác sẽ đi qua Đông Nam Á và sau đó sẽ tiếp tục tới các đảo tại Thái Bình Dương. Về bản chất, rất khó để nói rõ các tuyến đường cụ thể bởi khác với các đầu tư hiện tại - lập trường chính trị của các quốc gia liên quan vẫn chưa được làm rõ.

….

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

Péter Klemensits, Tiễn sĩ, Thạc sĩ, Tư vấn Cao cấp tại Viện Địa chiến lược Athene, Quỹ Địa Chiến lược Pallas Athene, Ngân hàng Trung ương Hungary, Budapest. Từ năm 2015, ông là Giảng viên tại Khoa Nghiên cứu Quốc tế Viện Nghiên cứu Quốc tế và Khoa học Chính trị, trường Đại học Pázmány Péter Catholic, Budapest. Ông đồng thời là nghiên cứu viên bán thời gian tại Nhóm Nghiên cứu Đông Á hiện đại, Đại học Pázmány Péter Catholic. Ông lấy bằng Thạc sỹ về Lịch sử và Tiến sỹ về Khoa học Quân sự. Hiện tại ông đang theo đuổi bằng Tiến sỹ về địa chính trị tại Trường Nghiên cứu sinh Khoa học Trái đất, thuộc Đại học Pécs. Các nghiên cứu của ông tập trung vào các vấn đề lịch sử hiện đại và chính sách an ninh ở Đông Nam Á, tập trung vào Philippines. Email: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. . Bài viết được đăng trên Contemporary Chinese Political Economy and Strategic Relations: An International Journal, Đài Loan.

Thu Hà (dịch)

Trần Quang (hiệu đính)

 


[i] Theo khía cạnh này, Việt Nam là một ngoại lệ do nhước này chỉ tham gia vào các tuyến đường trên đất liền mà không tham gia vào dự án MSR (Xinhua, 23 May 2017).  Lào và Campuchia là hai quốc gia lục địa duy nhất có thể chỉ đóng vai trò năng động trong việc thực hiện OBOR. Tất nhiên, MSR được trông đợi là sẽ gián tiếp mang lại các kết quả tích cực.

[ii] Như Giáo sư Wang Yiwei  nhận định trong cuốn sách gần đây của mình, Sáng kiến Vành đai và Con đường: Trung Quốc sẽ mang lại cho thế giới những gì trong quá trình trỗi dậy của mình, đã cho rằng Trung Quốc “tìm kiếm việc trốn tránh các nguy cơ truyền thống của toàn cầu hoá và tạo ra một loại văn minh trên biển mới với các đặc điểm của việc hội nhập của con người và đại dương, cùng tồn tại hoà bình và phát triển bền vững” (Wang, 2016, 16).

[iii] Theo Giáo sư Yang Baoyun tại Đại học Bắc Kinh, “giống như các tuyến đường lịch sử hàng trăm năm trước, MSR Mới sẽ mang lại các lợi ích hiện hữu cho các quốc gia láng giềng dọc theo tuyến đường này, và sẽ là một lực lượng đứng đầu mới cho sự thịnh vượng của toàn khu vực Đông Á” (China Daily, 4/10/2013).

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Báo cáo đặc biệt: Sức mạnh hệ thống tên lửa – Trung Quốc dẫn đầu, Mỹ tăng tốc

Báo cáo đặc biệt: Sức mạnh hệ thống tên lửa – Trung Quốc dẫn đầu, Mỹ tăng tốc

Dưới thời Tập Cận Bình, Bắc Kinh đã nâng tầm các lực lượng tên lửa của họ đến mức nhiều tên lửa trong kho vũ khí của Trung Quốc giờ đây ngang ngửa hoặc vượt trội so với các tên lửa Mỹ. Sự thay đổi mạnh mẽ này có thể khiến các tàu sân bay Mỹ - vốn là xương sống của uy thế quân sự Mỹ - trở nên lỗi thời trong một cuộc xung đột với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Việt Nam trong chính sách Hành động hướng Đông của Ấn Độ

Việt Nam trong chính sách Hành động hướng Đông của Ấn Độ

Theo chính sách Hành động hướng Đông, Việt Nam sẽ vẫn là điểm đến quan trọng cho các dự án phát triển, thương mại và đầu tư của Ấn Độ.

Đọc tiếp...

Chính sách Hành động hướng Đông và Chiến lược SVIMM của Ấn Độ

Chính sách Hành động hướng Đông và Chiến lược SVIMM của Ấn Độ

Chiến lược SVIMM (Singapore, Việt Nam, Indonesia, Myanmar và Malaysia ) có một số mục đích cố hữu theo quan điểm của Ấn Độ. Singapore, Malaysia và Indonesia là những bên tham gia liên quan đến an ninh eo biển Malacca.y. Trong khi đó, Myanmar và Việt Nam rất quan trọng đối với Ấn Độ về mặt hợp tác chống khủng bố và vai trò trọng yếu về các mục đích quốc phòng và hoạt động thăm dò khí đốt của Ấn Độ ở biển Biển Đông.

Đọc tiếp...

Quan hệ Trung Quốc-Malaysia quay trở lại lộ trình?

Quan hệ Trung Quốc-Malaysia quay trở lại lộ trình?

Sau khi Thủ tướng Mahathir lên nắm quyền (tháng 5/2018), đã có những nghi ngờ thực sự về vị thế của các siêu dự án Trung Quốc tại Malaysia. Tuy nhiên, trước và trong chuyến thăm thứ 2 của Mahathir tới Trung Quốc vào tháng 4/2019, những mối hoài nghi như vậy đã được xóa bỏ.

Đọc tiếp...

Cạnh tranh Mỹ-Trung: Chiến tranh lạnh kiểu mới?

Cạnh tranh Mỹ-Trung: Chiến tranh lạnh kiểu mới?

Ba thập kỷ sau khi Liên Xô sụp đổ, thời điểm đơn cực đã kết thúc. Tại Trung Quốc, Mỹ phải đối mặt với một đối thủ rất lớn và khao khát trở thành số một. Quan hệ kinh doanh và lợi nhuận, những cái trước đây giúp củng cố mối quan hệ, đã trở thành cái để cạnh tranh.

Đọc tiếp...

Khai thác tiềm năng hợp tác quốc phòng to lớn giữa Ấn Độ và Việt Nam

Khai thác tiềm năng hợp tác quốc phòng to lớn giữa Ấn Độ và Việt Nam

Mặc dù không thể phủ nhận thực tế là hợp tác quốc phòng giữa hai nước đang phát triển, nhưng cần phải có một tầm nhìn chiến lược và một tư duy rõ ràng để đưa nó vào một quỹ đạo cao hơn.

Đọc tiếp...

Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung: Mục tiêu là công nghệ

Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung: Mục tiêu là công nghệ

Cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung nhận được nhiều sự chú ý, nhưng nó ẩn dấu một “cuộc chiến công nghệ” lớn hơn nhằm tranh giành sự đổi mới trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp...

Sẽ là sai lầm khi nghĩ về một cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Trung?

Sẽ là sai lầm khi nghĩ về một cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Trung?

Việc bao vây kinh tế do Mỹ đứng đầu sẽ buộc Trung Quốc phải tạo ra khối kinh tế tự cung tự cấp của chính mình. Điều này sẽ làm tổn thương đến nhiều nền kinh tế châu Á vốn có quan hệ làm ăn với Trung Quốc và Mỹ, bao gồm cả Nhật Bản.

Đọc tiếp...

Chiến lược “phòng bị nước đôi” của Trung Quốc ở vùng Vịnh

Chiến lược “phòng bị nước đôi” của Trung Quốc ở vùng Vịnh

Bắc Kinh đang thực hiện chiến lược “phòng bị nước đôi” ở vùng Vịnh, vừa tìm cách xây dựng mối quan hệ bền chặt với từng quốc gia trong khu vực tại thời điểm mà cam kết của Mỹ với Trung Đông đang bị hoài nghi. Trong bối cảnh BRI tiếp tục được định hình ở Trung Đông, người ta kỳ vọng mối quan hệ hợp tác rộng mở hơn.

Đọc tiếp...

Con đường Tơ lụa trên Biển Mới Thế kỷ 21: Hệ quả Địa chính trị đối với các quốc gia Đông Nam Á

Con đường Tơ lụa trên Biển Mới Thế kỷ 21: Hệ quả Địa chính trị đối với các quốc gia Đông Nam Á

Bài viết tóm tắt khái niệm và các động cơ của Trung Quốc nói chung trong MSR Thế kỷ 21, đồng thời trình bày chi tiết sự tham gia của các nước Đông Nam Á vào dự án cũng như các hệ quả về địa chính trị mà hợp tác này mang lại cho khu vực.

Đọc tiếp...

Thế khó xử của Philippines đối với vốn đầu tư Trung Quốc

Thế khó xử của Philippines đối với vốn đầu tư Trung Quốc

Rủi ro chính trị cao trong khi lợi nhuận thu về khá thấp khiến phần lớn các nhà đầu tư nước ngoài không muốn đầu tư vào các lĩnh vực tạo ra việc làm quan trọng, do đó các quốc gia đang phát triển tại châu Á không còn nhiều lựa chọn khi nguồn vốn đầu tư Trung Quốc đang vẫy gọi.

Đọc tiếp...

Đông Nam Á và sự cạnh tranh Mỹ-Trung

Đông Nam Á và sự cạnh tranh Mỹ-Trung

Ngày 15/11/2018, Thủ tướng Lý Hiển Long từng nói: “Tôi nghĩ việc chúng ta không phải chọn đứng về phe nào là đáng mơ ước, nhưng có thể xảy ra tình huống ASEAN phải lựa chọn phe này hay phe khác. Tôi hy vọng điều đó không sớm xảy ra”.

Đọc tiếp...

Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương: Cân nhắc các lợi ich chiến lược của Trung Quốc-Ấn Độ

Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương: Cân nhắc các lợi ich chiến lược của Trung Quốc-Ấn Độ

Bài nghiên cứu phân tích các vấn đề địa chiến lược biển đang nổi tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong bối cảnh Mỹ-Trung đang cạnh tranh nhằm có được ưu thế vượt trội trên biển. Thêm vào đó, bài nghiên cứu cũng tập trung vào các biện pháp của Ấn Độ để đối phó với các động thái trên biển và chiến thuật hải quân của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nhật Bản thách thức Trung Quốc ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Nhật Bản thách thức Trung Quốc ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Nếu có một nhân vật duy nhất đóng vai trò lớn nhất trong việc mang lại kỷ nguyên Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, thì người ta có thể cho rằng đó là Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe. Với tư tưởng kiên định không ai sánh kịp, ông đã tận tâm cải tổ không chỉ chính sách đối ngoại của Nhật Bản hậu Chiến tranh thế giới thứ hai, mà còn cả trật tự thế giới hậu Mỹ đang nổi lên.

Đọc tiếp...

Can dự: Biện pháp đối phó hiệu quả nhất với Triều Tiên

Can dự: Biện pháp đối phó hiệu quả nhất với Triều Tiên

Bài phỏng vấn Tiến sĩ Chung-in Moon, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Moon Jae-in về các vấn đề thống nhất, ngoại giao và an ninh quốc gia. Tiến sĩ Chung-in Moon được biết đến rộng rãi như là một trong những chuyên gia hàng đầu về quan hệ liên Triều cũng như nhờ đóng góp của ông về học thuật và hoạt động trong chính phủ.

Đọc tiếp...

Hội nghị Mỹ-Triều lần hai: Vai trò của Trung Quốc và Hàn Quốc

Hội nghị Mỹ-Triều lần hai: Vai trò của Trung Quốc và Hàn Quốc

Trong các cuộc đàm phán Mỹ-Triều, vai trò của Trung Quốc là đem lại cảm giác an toàn cho Triều Tiên khi đàm phán trực tiếp với Mỹ, trong khi đó, Hàn Quốc sẽ đóng vai trò là một kênh đối thoại gián tiếp giữa Mỹ và Triều Tiên, cũng như làm “chất xoa dịu” để giảm bớt những căng thẳng có thể leo thang theo giai đoạn.

Đọc tiếp...

Quan hệ Trung Quốc-Ấn Độ trong năm 2019 sẽ ra sao?

Quan hệ Trung Quốc-Ấn Độ trong năm 2019 sẽ ra sao?

Trong bối cảnh quan hệ Trung Quốc-Ấn Độ đang đi xuống do hai bên còn nghi kị lẫn nhau, điều hai nước nên làm trong năm 2019 là tiến hành một cuộc đối thoại chiến lược có ý nghĩa và mang tính bao quát. Nếu có thể, cơ chế đối thoại chiến lược giữa hai nước hiện nay có thể được nâng cấp thành một cơ chế mới và toàn diện.

Đọc tiếp...

"Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở" cần sự đồng thuận

Hiện vẫn chưa có sự đồng thuận về ý tưởng bao trùm sáng kiến kiến "Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở" cũng như chưa rõ các cấu trúc cần thiết cho việc thực thi. Nói đúng hơn là mọi thứ vẫn còn rất mơ hồ. ASEAN và các quốc gia khác nên tham gia vào FOIP để đóng góp cho công cuộc xây dựng nó và hình thành được một trật tự khu vực mang tính tổng thể hơn.

Đọc tiếp...

Từ bỏ NATO và bảo vệ châu Âu mới - Hướng đi tiếp theo của Mỹ?

Từ bỏ NATO và bảo vệ châu Âu mới - Hướng đi tiếp theo của Mỹ?

Mỹ nên hợp tác với NATO với tư cách không phải là thành viên của tổ chức này, và tập trung vào các nguồn lực hữu hạn mà Mỹ có thể đạt được, từ những cuộc cạnh tranh quan trọng mà Mỹ phải đối mặt với Trung Quốc ở Thái Bình Dương đến những quốc gia ở châu Âu mới vẫn có ý chí chiến đấu, và vẫn mang theo ngọn đuốc của nền văn minh phương Tây. Đọc tiếp...

Campuchia ở trung tâm của một cuộc chiến tranh lạnh mới

Campuchia ở trung tâm của một cuộc chiến tranh lạnh mới

Khi cuộc cạnh tranh siêu cường giành tầm ảnh hưởng khu vực đạt tới một cường độ mới, có lẽ Campuchia sẽ nhận thấy mình ở trung tâm của một cuộc chiến tranh lạnh mới ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7168 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin