21 - 11 - 2017 | 11:10
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển ở Biển Đông

Các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển ở Biển Đông

Email In PDF.

Bài viết đánh giá sự phát triển và hiệu quả các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển nhằm đảm bảo an toàn và hoạt động lưu thông trên biển ở khu vực, giảm thiểu căng thẳng và ngăn ngừa xung đột. Cụ thể, tác giả sẽ phân tích các hiệp định đa phương ràng buộc LOSC, COLREG, hiệp định đa phương không ràng buộc CUES cũng như các hiệp định song phương giữa Mỹ và Trung Quốc.

 

Tóm tắt

Bài viết đánh giá sự phát triển và hiệu quả các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển (CBM) nhằm đảm bảo an toàn và hoạt động lưu thông trên biển ở khu vực, giảm thiểu căng thẳng và ngăn ngừa xung đột. Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 (LOSC) và Các Quy định Quốc tế về Ngăn ngừa Xung độ trên Biển 1972 (COLREG) là các hiệp định đa phương đưa ra các nghĩa vụ ràng buộc pháp lý đối với tất cả các quốc gia. Quy tắc Chạm trán Bất ngờ trên biển 2014 (CUES) thiết lập các quy định cụ thể hơn rất nhiều về nhiệm vụ bảo đảm an toàn khi chạm trán trên biển, nhưng hiệp định này không mang tính ràng buộc. Năm 2014 và 2015, hai cường quốc lớn là Mỹ và Trung Quốc đã ký  hiệp định không ràng buộc là Biên bản Ghi nhớ (MOU) về các Quy tắc Hành xử Đảm bảo An toàn khi Chạm trán trên Không và trên Biển. Bài viết này kết luận rằng, những công cụ không ràng buộc đó khó tăng cường được an toàn hay đảm bảo an toàn trên biển, và ở một số khía cạnh nào đó, chúng còn có thể làm xói mòn an toàn trên biển.

Từ khóa

Biển Đông - tự do hàng hải - các biện pháp xây dựng lòng tin - ASEAN

Giới thiệu

Bài viết này đánh giá tính hiệu quả của các biện pháp xây dựng lòng tin (CBM) nhằm đảm bảo tự do và an toàn trên biển ở Biển Đông. Các báo cáo từ các tàu chính phủ và dân sự của Trung Quốc, Việt Nam và Malaysia về các vụ đâm tàu hay các hoạt động chủ ý gây nguy hiểm đã khiến tình hình khu vực căng thẳng.[1] Kể từ cuối những năm 1990, tàu chiến, tàu dân sự và máy bay quân sự Trung Quốc, đặc biệt rất hay va chạm với các quốc gia láng giềng, cũng như với Mỹ và Ấn Độ do xung đột về tầm nhìn chiến lược cũng như về các quyền tài phán trên biển. Bài viết này phân tích nội dung và hiệu quả các thỏa thuận nhằm hạ nhiệt căng thẳng chính trị thông qua việc áp dụng các cơ chế hiện có và phát triển các quy tắc mới để kiểm soát va chạm ở Biển Đông.

Công ước về Các Quy định Quốc tế Ngăn ngừa va chạm trên Biển (COLREG)[2] và Quy tắc Chám trán Bất ngờ trên Biển 2014 (CUES)[3] đặt ra nền tảng chính thức cho đảm bảo an toàn khi chạm trán trên biển ờ Biển Đông. COLREG ràng buộc về mặt pháp lý, và được áp dụng cho cả tàu chiến và tàu thương mại. Tuy nhiên, CUES lại không phải là công cụ mang tính ràng buộc và chỉ được áp dụng đối với tàu hải quân, không áp dụng cho tàu chấp pháp biển hay tàu thương mại. Các công cụ đa phương này được bổ sung bởi ba hiệp định song phương giữa Mỹ và Trung Quốc vào các năm 2014 và 2015 với mục đích là giảm nguy cơ va chạm giữa lực lượng không quân và hải quân của hai nước.[4] Mặc dù MOU song phương không hạn chế đối với những va chạm ở Biển Đông, hầu hết những va chạm nguy hiểm giữa lực lượng hai nước lại xảy ra tại khu vực này.[5]

Sự pha trộn giữa các công cụ ràng buộc và không ràng buộc tạo ra khuôn khổ quản lý hòa bình những va chạm ở Biển Đông. Bài viết đánh giá sự phát triển và tiềm năng hiệu quả của các công cụ này. Cho đến hiện tại, việc tuân thủ và phù hợp với các quy định và quy tắc được nêu ra trong các CBM không đồng đều khi Trung Quốc thể hiện nước này sẵn sàng vi phạm các chuẩn mực quốc tế để đạt được các lợi ích của riêng mình ở khu vực.

Bối cảnh Chính trị - Quân sự

Sau Thế chiến thứ 2, có rất ít vụ va chạm thực sự trên biển xuất phát từ tranh chấp đối với các thực thể ở Biển Đông. Năm 1974, Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa từ Việt Nam.[6] Ở thời điểm đó, Trung Quốc khẳng định rằng mình có “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Bãi Trung Sa (Macclesfield Bank) và Quần đảo Đông Sa (Pratas Islands).[7] Hai quốc gia lại có xung đột ở Trường Sa vào năm 1988.[8]

Năm 2009, Trung Quốc tiến thêm một bước về yêu sách đối với Biển Đông khi gửi Công hàm cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông và các vùng nước phụ cận và được hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước phụ cận cũng như đáy biển và tầng đất dưới đáy”.[9] Trong công hàm, Trung Quốc đã đính kèm tấm bản đồ yêu sách Đường Chín đoạn. Năm 2013, Philippines khởi xướng thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc theo Phần XV của LOSC đối với đường chín đoạn của Trung Quốc cũng như các yêu sách biển liên quan.[10]

Căng thẳng khu vực leo thang trong suốt thời gian 2014 - 2015 khi Trung Quốc tiến hành trên quy mô lớn các hoạt động “cải tạo” san hô và “lãnh thổ” đáy biển, biến một loạt đá, thực thể nửa nổi nửa chìm thành các đảo nhân tạo lớn, trong số đó có những đảo nhân tạo còn được xây dựng thêm cảng biển và đường băng.[11] Những tranh chấp trên biển không mấy nguy hại trong suốt những năm 1990 đã trở thành nguyên nhân gây bất ổn khu vực. Tòa trọng tài Trung Quốc - Philippines đã ra phán quyết vào tháng 7/2016, theo đó không công nhận Đường Chín đoạn, nhưng Trung Quốc đã bác bỏ phán quyết.[12] Khi triển vọng giải quyết tranh chấp dường như xa vời hơn bao giờ hết, các quốc gia bắt đầu tập trung nhiều hơn vào các biện pháp giảm căng thẳng và ngăn ngừa xung đột công khai thay vì những thỏa thuận lớn nhằm giải quyết những tranh chấp cơ bản.

Các biện pháp quản lý được được nêu trong các thỏa thuận áp dụng tại một môi trường biển khu vực sôi động và ngày càng bất ổn. Ở Biển Đông, đang diễn ra sự thay đổi lớn trong các mối quan hệ chính trị thể hiện từ Delhi cho tới Washington. Sự trỗi dậy của Trung Quốc, và chính xác hơn là sự quyết đoán của Trung Quốc ở trên biển, đánh dấu sự xác lập lại cán cân sức mạnh ở Đông Á và là bản sao sự nổi lên của một nước Nga theo chủ nghĩa phục hận ở lục địa Châu Âu.

Các mối quan hệ giữa Nga, Trung Quốc và Mỹ tạo nên hệ thống thế giới ba cực. Hiện tại, Moscow và Bắc Kinh xác định các lợi ích chiến lược của mình theo nguyên tắc là ngăn cản sức mạnh bá quyền của Mỹ ở Châu Âu và Châu Á - Thái Bình Dương.[13] Trong khi Châu Âu đang phải đối mặt với mối đe dọa về sự thống trị của Nga trên đất liền, tình hình bất ổn ở Châu Á lại xuất phát từ xu hướng quyết đoán trên biển của Trung Quốc. Trong bối cảnh chiến lược như vậy, luật quốc tế có thể là công cụ tăng cường ổn định và trật tự để đảm bảo an toàn hàng hải.

Các đại dương gặp nhiều nguy cơ nhất trên thế giới khi các tuyến giao thương biển bị đe dọa là Vịnh Ba Tư, Biển Hoa Đông và Biển Đông. Các nền kinh tế xuất khẩu như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các quốc gia Châu Á khác đều phụ thuộc rất lớn vào các tuyến giao thương biển để phát triển nền kinh tế thịnh vượng. Kể từ khi lập quốc vào thế kỷ 18, Mỹ luôn đi đầu bảo vệ tự do trên biển. Nhà sử học lỗi lạc của Mỹ Samuel Flagg Bemis đã gọi học thuyết tự do trên biển là “quyền thừa kế cổ xưa” của Cộng hòa Mỹ.[14] Di sản này đã gắn liền với nước Mỹ qua các cuộc thế chiến, Chiến tranh Lạnh và cho đến hiện tại.[15]

Định hướng Chiến lược Quốc phòng tháng 1/2012 nêu rõ: “Mỹ sẽ tiếp tục đi đầu trong nỗ lực toàn cầu, cùng với các đồng minh và đối tác có năng lực để đảm bảo quyền tiếp cận và sử dụng các tài sản chung toàn cầu…thông qua việc duy trì năng lực quân sự phù hợp và mang tính tương tác”.[16] Cũng trong tháng 1/2012, Lầu Năm góc đưa ra bản Khái niệm Tiếp cận và Tác chiến Chung mô tả cách thức lực lượng Mỹ vô hiệu Chiến lược Chống Xâm nhập Tiếp cận (A2/AD) của các đối thủ cạnh tranh.[17] Tương tự, năm 2015, Chiến lược An ninh Quốc phòng của Mỹ đã tái khẳng định học thuyết lịch sử này khi tuyên bố: “Mỹ có lợi ích lâu bền về quyền tự do hàng hải và hàng không cũng như sự bền vững đối với môi trường biển và trên không”.[18] Quan điểm này được lặp lại trong tầm nhìn của ba lực lượng là Tuần duyên-Thủy quân Lục chiến-Hải quân, đó là Chiến lược Hợp tác hướng tới Sức mạnh biển thế kỷ 21, chiến lược nêu rõ ba lực lượng vũ trang trên biển của Mỹ sẽ tập trung đảm bảo mọi quyền tiếp cận trên biển.[19]

Sự khác biệt về khái niệm tự do hàng hải là nhân tố chính của tranh chấp, và các công cụ và CBM có thể giúp quản lý tranh chấp. Vì một nửa hoạt động vận tải biển toàn cầu đi qua Biển Đông,[20] bổn phận của các quốc gia cảng biển, ven biển và quốc gia biển là đảm bảo tự do và an toàn hàng hải cho toàn bộ khu vực. Tuy nhiên, với tầm nhìn đối lập về tự do hàng hải, Trung Quốc cho rằng các quyền này chỉ áp dụng cho tàu thương mại, trong khi đó Mỹ lại cho rằng định nghĩa tự do hàng hải áp dụng cho cả hoạt động quân sự và thu thập thông tin.[21] Vì lợi ích của khu vực, hai cường quốc cũng như các quốc gia khác cần gác bỏ những tranh chấp mang tính lý thuyết và tiến tới các thỏa thuận mang tính thực tế để giảm va chạm giữa các lực lượng hải quân. Để đạt được điều đó, các quốc gia đã tận dụng các công cụ mang tính ràng buộc và không ràng buộc.

Các Công cụ Xây dựng Lòng tin

Phần này sẽ phân tích các thỏa thuận và hiệp định, đánh giá tác động của chúng đối với đảm bảo an toàn hàng hải ở Biển Đông. Phần này cũng đặt các thỏa thuận trong bối cảnh chiến lược về sự trỗi dậy của Trung Quốc. Điều quan trọng là cho đến nay, việc Trung Quốc không thực hiện đầy đủ các chuẩn mực quốc tế cho thấy các thỏa thuận mới sẽ không tạo ra sự thay đổi cụ thể và lâu bền đối với tự do hàng hải ở Biển Đông. Mặc dù các thỏa thuận là bước đi đúng hướng, thực tiễn quốc gia cho đến nay, đặc biệt là Trung Quốc, lại cho thấy không hề có sự lạc quan hay hứa hẹn lớn nào về vấn đề bảo đảm quyền của mọi quốc gia sử dụng các tuyến đường biển ở Biển Đông.

Trước hết, trong số các hiệp định mang tính ràng buộc thúc đẩy sự minh bạch và ổn định thì Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (gọi là LOSC hay Công ước) là nền tảng trật tự dựa trên luật lệ cho các đại dương.[22] Một vài khía cạnh của LOSC nhằm xây dựng lòng tin và ngăn ngừa xung đột trên biển. Đầu tiên, Công ước quy định bộ quy tắc được chấp nhận trên toàn cầu về hoạt động hảng hải trong vùng lãnh hải, hoạt động hàng hải và hàng không qua eo biển được sử dụng trong hàng hải quốc tế, cũng như tự do biển cả trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và tự do biển cả. Thứ hai, những quy tắc này cấu thành nên gói thỏa thuận toàn diện tập trung vào việc sử dụng trên thực tiễn của đại dương, quyền và nghĩa vụ chung thay vì chỉ tập trung hoàn toàn vào vấn đề chủ quyền hay quyền tài phán đối với không gian chung. Thứ ba, quyền và nghĩa vụ được phản ánh trong Công ước được thực hiện thông qua các quốc gia tàu thuyền mang cờ, quốc gia ven biển và quốc gia cảng biển dựa trên sự phân chia về thẩm quyền thi hành và thẩm quyền theo tập quán với mục đích ngăn ngừa xung đột. Chẳng hạn, trong khi các quốc gia ven biển có thẩm quyền theo tập quán về kế hoạch phân luồng giao thông tại các eo biển phù hợp với Điều 41(1) của LOSC, thẩm quyền thi hành thuộc về quốc gia tàu thuyền mang cờ theo như Điều 41(7) và Điều 94.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

Trần Quang (dịch)

Tuấn Đinh (hiệu đính)

James Kraska, Giáo sư Howard S. Lavie trường Luật Quốc tế, Trung tâm Nghiên cứu Luật Quốc tế Stockton, Học viện Hải chiến Mỹ, Newport, RI 02841, Mỹ. Email Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. . Bài viết được đăng trên The International Journal of Marine and Coastal Law, Volume 32.

Bài dịch thuộc bản quyền Nghiên cứu Biển Đông. Đề nghị chỉ được dẫn đường link, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập.



[1] Xem ‘Malaysian vessels ram Vietnamese boat, leaving one fisherman missing’ (13/10/2014) Tuoitre News (Vietnam), tại http://tuoitrenews.vn/society/23211/malaysianvessels-ram-vietnamese-boat-leaving-one-fisherman-missing ; ‘Vietnam vessels ‘ram China ships 1,400 times’’ (9/6/ 2014) Al Jazeera, tại http://www.aljazeera.com/news/asia-pacific/2014/06/vietnam-vessels-ram-china-ships-1400-times-201469132238719725.html; và E Slavin, ‘USslams ‘provocation’ after Chinese reportedly ram Vietnamese ships’ (8/5/2014)  Stars and Stripes, xem tại  http://www.stripes.com/news/us-slams-provocation-after-chinese-reportedly-ram-vietnamese-ships-1.282098

[2] Công ước Quy định Quốc tế Ngăn ngừa Va chạm trên Biển (London, 20/10/1972, có hiệu lực từ ngày 15/7/1977) 1050 UNTS 17 (dười đây gọi là “COLREG”).

[3] Hội nghị Hải quân Tây Thái Bình Dương, Quy tắc Chạm trán Bất ngờ trên Biển (Thanh Đảo, Trung Quốc, ngày 22/4/2014) (sau đây gọi là CUES 2014), xem tại http://news.usni.org/2014/06/17/document-conduct-unplanned-encounters-sea.

[4] Biên bản Ghi nhờ Mỹ - Trung về Quy tắc Hành vi An toàn cho các Chạm trán trên Không và trên Biển (Washington và Bắc Kinh, 9-10/11/2014) (sau đây gọi là “MOU Quy tắc”), xem tại http://archive.defense.gov/pubs/141112_MemorandumOfUnderstandingRegardingRules.pdf. Có ba bản ghi nhớ liên quan, chúng bao gồm các phụ lục. Xem Các Điều khoản Quy tắc Hành vi An toàn cho các cuộc Chạm trán trên Không và trên Biển (Phụ lục (I)) và Quy tắc Hành vi An toàn cho các cuộc Chạm trán trên mặt Biển (Phụ lục II), xem tại http://www.defense.gov/Portals/1/Documents/pubs/141112_MemorandumOfUnderstandingRegardingRules.pdf. Xem thêm Quy tắc Hành vi An toàn cho các cuộc chạm trán trên Không (Phụ lục III) ( ngày 18/9/2015) và Bổ sung về Chạm trán Trên Không (Kết luật trong Phụ lục I) (18/9/2015), xem tại http://www.defense.gov/Portals/1/Documents/pubs/US-CHINA_AIR_ENCOUNTERS_ANNEX_SEP_2015.pdf

[5] Xem E Rosenthal and DE Sanger, ‘U.S. plane in China after it collides with Chinese jet’ (2/4/2001) The New York Times, at p. A1; D Sevastopulo, ‘White House protests to Beijing over naval incidents’ (10/3/2009) Financial Times, at p. 3; AS Tyson, ‘China draws U.S. protest over shadowing of ships’ (10/3/2009) The Washington Post, at p. A8; J Perlez, ‘American and Chinese navy ships nearly collided in South China Sea’ (15/12/2013) The New York Times, at p. A21; and C Whitlock, ‘Pentagon: China tried to block U.S. aircraft’ (23/8/2014) The Washington Post, at p. A7.

[6] DK Shipler (21/1/1974) The New York Times, at p. 2: “Saigon mil command repts Chinese Planes and Ground Troops Secured Paracels Jan 20. Lt Col Le Trung Hien says Saigon does not yet consider islands lost. Diplomats in Saigon mystified by Chinese attack. Mil action and Chinese and S Vietnamese claims to islands revd”. See also CS Wren, ‘Who are the foreigners in the South China Sea?’ (9/2/1983) The New York Times, at p. A2

[7] (21/1/1974) The New York Times, at p. 2 (trích dẫn thông báo Tân Hoa xã, 20/1/1974)

[8] R Thomson, ‘China and Vietnam clash over disputed islands’ (15/3/1988) Financial Times, at p. 4; N Cumming-Bruce, ‘Hanoi denounces Peking designs on Spratlys’ (25/4/1988) The Guardian; and ‘China turns down Hanoi call for talks on Spratlys’ (25/3/1988) The Guardian.

[9] Phái đoàn thường trực Cộng hòa Nhân dân Trung hoa, Công hàm, CML/17/2009 và CML/18/2009 (7/5/2009), xem tại http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/chn_2009re_mys_vnm_e.pdf  và http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/chn_2009re_vnm.pdf

[10] ‘Philippines files protest claims at UNover disputed Spratly Islands’ (11/8/2009) BBC Worldwide (trích dẫn T Jamandre, ‘Manila files protest claims over islands’ (11/8/2009) Vera Files)

[11] Quá trình và tình trạng hiện tại các công trình đảo có thể xem theo thời gian thực diễn ra tại Sáng kiến Minh bạch Biển, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược va Quốc tế, xem tại http://amti.csis.org

[12] South China Sea Arbitration (The Republic of Philippines v.The People’s Republic of China), Award (12/7/2016), PCA Case No. 2013–19, xem tại http://www.pcacases.com/web/view/7 . Xem S Denyer and E Rauhala, ‘Beijing’s claims to South China Sea rejected by international tribunal’ (12/7/2016) The Washington Post, xem tại https://www.washingtonpost.com/world/beijing-remains-angry-defiant-and-defensive-as-key-southchina-sea-tribunal-ruling-looms/2016/07/12/11100f48-4771-11e6-8dac-0c6e4accc5b1_story.html?utm_term=.8facea303e80; và d E Rauhala, ‘China: disregard the South China Sea ruling.he Philippines: no’ (19/7/2016) The Washington Post, xem tại https://www.washingtonpost.com/news/worldviews/wp/2016/07/19/china-disregard-the-southchina-sea-ruling-the-philippines-no/?utm_term=.4844eca0c4ec

[13] T O’Connor, ‘War Games: Russia and China join forces against global USmissile shield’ (12/10/2016) International Business Times, xem tại http://www.ibtimes.com/war-games-russia-china-join-forces-against-global-us-missile-shield-2430751.

[14] S Flagg Bemis, A Diplomatic History of the United States (4th ed., Henry Holt, New York, 1955), tr. 875

[15] Xem CG Fenwick, ‘The Freedom of the Seas’ (1917) 11(2) American Political Science Review 386–388, tr. 388

[16] U.S. Department of Defense, Sustaining Global Leadership: Priorities for 21st Century Defense (3 January 2012), available at http://www.defense.gov/news/Defense_Strategic_Guidance.pdf.

[17] U.S.Department of Defense, Joint Operational Access Concept (17/1/2012), xem tại http://www.defense.gov/Portals/1/Documents/pubs/JOAC_Jan%202012_Signed.pdf

[18] President of the United States, National Security Strategy (2/2015), tr. 13, xem tại http://nssarchive.us/wp-content/uploads/2015/02/2015.pdf.

[19] R Mabus, Secretary of the Navy, A Cooperative Strategy for 21st Century Seapower (3/2015), tr. 19–22, xem tại https://www.uscg.mil/SENIORLEADERSHIP/DOCS/CS21R_Final.pdf. Xem thêm TS Morris, M VanDriel, B Dries, JC Perdew, RH Schulz and KE Jacobsen, ‘Securing Operational Access: Evolving the Air-Sea Battle Concept’ (11/2/2015) The National Interest, xem tại http://nationalinterest.org/feature/securing-operational-access-evolving-the-air-sea-battle-12219

[20] ‘A disputed sea is a growing security nightmare—and increasingly an ecological one’ (2/5/2015) The Economist, xem tại http://www.economist.com/news/leaders/21650122-disputed-sea-growing-security-nightmareand-increasingly-ecological-one-seatroubles/comments?page=1.

[21] R Guy, ‘Beijing ups ante on sea claims’ (22/11/2011) Australian Financial Review, tr. 15

[22] United Nations Convention on the Law of the Sea (Montego Bay, 10/12/1982, có hiệu lực từ 16/11/1994) 1833 UNTS 396 (sau đây gọi là “LOSC”).

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Tham vọng Chủ nghĩa Xét lại của Trung Quốc tại Đông Nam Á và Vết đen Tranh chấp Biển Đông

Tham vọng Chủ nghĩa Xét lại của Trung Quốc tại Đông Nam Á và Vết đen Tranh chấp Biển Đông

Trong 20 năm qua, Bắc Kinh đã gặt hái được một số thành công trong việc thay đổi hiện trạng khu vực bằng chính sách láng giềng tốt. Nhưng rắc rối trong vấn đề Biển Đông dường như lại ngăn cản quá trình thực hiện những tham vọng của chủ nghĩa xét lại đối với khu vực trong những thập kỷ tới.

Đọc tiếp...

Các tranh luận chiến lược và sự mơ hồ trong nội bộ Trung Quốc về vấn đề Biển Đông

Các tranh luận chiến lược và sự mơ hồ trong nội bộ Trung Quốc  về vấn đề Biển Đông

Bản sắc kép của Trung Quốc là nguyên nhân cho  các tranh luận và mơ hồ về chiến lược trong nội bộ về vấn đề Biển Đông. Thêm vào đó, Trung Quốc chưa xác định liệu rằng vấn đề Biển Đông có thuộc lợi ích quốc gia cốt lõi của mình hay không cũng như chưa giải quyết được câu hỏi về thứ tự ưu tiên giữa các yêu sách trên Biển Đông và quan hệ Trung – Mỹ.

Đọc tiếp...

Quan điểm của Luật pháp Quốc tế về Các Thực thể Đảo và Bãi cạn Nửa nổi Nửa chìm ở Biển Đông

Quan điểm của Luật pháp Quốc tế về Các Thực thể Đảo và Bãi cạn Nửa nổi Nửa chìm ở Biển Đông

Nhiều thực thể đảo (đảo/đá) và bãi cạn nửa nổi nửa chìm (đá ngầm, bãi cạn) ở Biển Đông từ lâu là đối tượng chú ý và tranh chấp của các nước khu vực. Bài viết sẽ tập trung vào hai vấn đề chính: (a) các quốc gia ven biển đã tuyên bố và hành động như thế nào đối với các thực thể đảo ở Biển Đông; (b) và một số đánh giá về địa vị pháp lý các thực thể này.

Đọc tiếp...

Chiến lược của Anh tại châu Á: Một vài nguyên tắc nền tảng

Chiến lược của Anh tại châu Á: Một vài nguyên tắc nền tảng

Trong thời điểm mà cạnh tranh địa chính trị và chuyển giao quyền lực ở châu Á – Thái Bình Dương đang ngày càng gay gắt, lợi ích quốc gia của Anh không nên chỉ gói gọn trong việc theo chân các đồng minh quyền lực nhất mà phải đảm bảo rằng lợi ích của họ sẽ không ảnh hưởng tới lợi ích nền tảng của các quốc gia đồng minh.

Đọc tiếp...

Tại sao nước Pháp phải chú ý tới Biển Đông?

Tại sao nước Pháp phải chú ý tới Biển Đông?

Trước những nguy cơ chiến lược tại Biển Hoa Đông và Biển Đông mà châu Âu, nhất là Pháp đang đối mặt, Pháp buộc phải dành lại sự quan tâm của mình đối với khu vực này.

Đọc tiếp...

CSIS - Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông

CSIS - Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá  và hợp tác môi trường ở Biển Đông

Kế hoạch hành động về quản lý nghề cá và hợp tác môi trường ở Biển Đông” là sản phẩm đầu tiên của Nhóm chuyên gia về Biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Mỹ (CSIS) điều phối. Mục đích của Bản Kế hoạch này là cung cấp một mô hình hợp tác khả thi cho các nước yêu sách ở Biển Đông về quản lý tranh chấp biển.

Đọc tiếp...

Đâu là cách thức đối phó với chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc trên Biển Đông?

Đâu là cách thức đối phó với chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc trên Biển Đông?

Indonesia và Việt Nam cho thấy rằng có thể phân chia rạch ròi giữa việc cương quyết bảo vệ chủ quyền và quyền của một nước trên Biển Đông. Đã đến lúc Manila và Kuala Lumpur phải học hỏi từ những người hàng xóm của mình về cách đứng lên chống lại các chiến thuật “vùng xám” của Bắc Kinh thông qua một quyết tâm được thể hiện rõ ràng.

Đọc tiếp...

Kế hoạch đánh chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Kế hoạch đánh chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Năm ngoái, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn đã kêu gọi đất nước sẵn sàng cho một cuộc "chiến tranh nhân dân" trên biển. Các nhà lãnh đạo khu vực và Washington không được xem nhẹ những phát ngôn của Thường Vạn Toàn.

Đọc tiếp...

Dè chừng sức mạnh thủy lôi của Hải quân Mỹ

Dè chừng sức mạnh thủy lôi của Hải quân Mỹ

Mìn được coi là “ninja” trong các cuộc chiến tranh, bởi tính chất thầm lặng, chí mạng và có phần khủng khiếp của nó. Vũ khí thầm lặng này không chỉ hiệu quả trong việc gây ra những thiệt hại nặng nề mà còn reo rắc nỗi sợ hãi và bất ổn.

Đọc tiếp...

Những thăng trầm của cơ chế giải quyết tranh chấp theo UNCLOS

Những thăng trầm của cơ chế giải quyết tranh chấp theo UNCLOS

Bài viết này sẽ xem xét phạm vi và các hạn chế trong việc giải thích cơ chế giải quyết tranh, đặc biệt là trong Vụ kiện ra Tòa Trọng tài về Biển Đông. Nghiên cứu sẽ đặt ra câu hỏi về phạm vi của cơ chế giải quyết tranh chấp theo phần XV của UNCLOS và hiệu quả của việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Philippines đối mặt với thực tế mới ở Biển Đông

Philippines đối mặt với thực tế mới ở Biển Đông

Cách duy nhất mà Philippines có thể đối phó với Trung Quốc là phải tăng cường các mối liên minh của mình, không chỉ là quan hệ với Mỹ. Philippines có các mối quan hệ kinh tế mạnh mẽ với Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc và nhiều nước khác.

Đọc tiếp...

Không có Brexit từ Biển Đông

Không có Brexit từ Biển Đông

Những tuyên bố gần đây của các quan chức cấp cao Anh liên quan đến việc triển khai tàu chiến của nước này tới vùng Biển Đông tất nhiên đã gây ra một phản ứng mạnh mẽ từ Trung Quốc. Tuy nhiên không giống như Mỹ, Anh không có chương trình tự do hàng hải.

Đọc tiếp...

Không có COC thực chất?

Không có COC thực chất?

Trung Quốc có thể sẽ chấp nhận COC một khi họ thành công trong việc đạt được mục tiêu của mình trên Biển Đông. Đến lúc đó, COC sẽ thực sự chẳng còn ý nghĩa.

Đọc tiếp...

Đánh giá về Dự thảo khung COC ASEAN-Trung Quốc

Đánh giá về Dự thảo khung COC ASEAN-Trung Quốc

Ngày 6/8/2017 tại Manila, Ngoại trưởng các nước ASEAN và Trung Quốc đã thông qua dự thảo khung COC. Nội dung của dự thảo khung và ý nghĩa đằng sau một số ngôn từ được sử dụng là gì? Những nội dung nào còn chưa được đề cập?

Đọc tiếp...

Năm trụ cột chiến lược của Mỹ tại Biển Đông

Năm trụ cột chiến lược của Mỹ tại Biển Đông

Chiến lược của Mỹ tại Biển Đông nên được triển khai dựa vào 5 trụ cột chính sau đây: luật pháp quốc tế, chính sách ngăn chặn, chính sách khuyến khích, cam kết ngoại giao và tập trung vào việc lấy ASEAN làm trung tâm.

Đọc tiếp...

ASEAN không nên rơi vào cái bẫy của Trung Quốc trên Biển Đông

ASEAN không nên rơi vào cái bẫy của Trung Quốc trên Biển Đông

Một COC mang tính ràng buộc về mặt pháp lý sẽ không nằm trong lợi ích của Trung Quốc. Họ sẽ không thể tự do tiến hành hoạt động ở những nơi mà họ đang can dự ở Trường Sa.

Đọc tiếp...

Các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển ở Biển Đông

Các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển ở Biển Đông

Bài viết đánh giá sự phát triển và hiệu quả các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển nhằm đảm bảo an toàn và hoạt động lưu thông trên biển ở khu vực, giảm thiểu căng thẳng và ngăn ngừa xung đột. Cụ thể, tác giả sẽ phân tích các hiệp định đa phương ràng buộc LOSC, COLREG, hiệp định đa phương không ràng buộc CUES cũng như các hiệp định song phương giữa Mỹ và Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Mối nguy hại từ phát triển chung Trung Quốc - Philippines trên Biển Đông

Mối nguy hại từ phát triển chung Trung Quốc - Philippines trên Biển Đông

Bất chấp sự lạc quan của Duterte về các cơ hội trước mắt, vốn được Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị nhắc lại trong chuyến thăm của ông tới Manila vừa qua, điều này che đậy những rủi ro nghiêm trọng liên quan đến quá khứ, bối cảnh hiện tại và tương lai gần.

Đọc tiếp...

Vũ trang hóa ranh giới hàng hải của Trung Quốc

Vũ trang hóa ranh giới hàng hải của Trung Quốc

Mặc dù có nhiều phân tích cho rằng, giới lãnh đạo Trung Quốc đã lựa chọn các lực lượng phi dân sự trong các cuộc đụng độ, đối đầu trên biển. Tuy nhiên, bài viết này lại đưa ra những phân tích và dự đoạn một xu hướng khác hoàn toàn.

Đọc tiếp...

Lực lượng biển thứ ba, Dân quân Vũ trang Biển Trung Quốc: Gắn kết chặt chẽ với PLA

Lực lượng biển thứ ba, Dân quân Vũ trang Biển Trung Quốc: Gắn kết chặt chẽ với PLA

Dân quân Vũ trang biển Trung Quốc hoạt động như Lực lượng biển thứ ba của nước này, và đã tham gia vào nhiều vụ va chạm tại các vùng nước tranh chấp. Điều cần thiết cho giới hoạch định chính sách của các bên là phải nắm bắt được vai trò của tổ chức này trong Quân đội Trung Quốc .

Đọc tiếp...

Chặng đường dài của ASEAN hướng tới Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông

Chặng đường dài của ASEAN hướng tới Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông

Nếu lấy quá khứ làm phần mở đầu, việc Trung Quốc coi thường phán quyết và liên tục quân sự hóa các cấu trúc địa hình ở Biển Đông đồng nghĩa với việc chặng đường dài của ASEAN hướng tới một Bộ quy tắc ứng xử (COC) vẫn sẽ bị kéo dài.

Đọc tiếp...

Thực tiễn Quốc gia ở Đông Nam Á: Tiềm năng hợp tác giữa các bên yêu sách trong tranh chấp Biển Đông

Thực tiễn Quốc gia ở Đông Nam Á: Tiềm năng hợp tác giữa các bên yêu sách trong tranh chấp Biển Đông

Mặc dù triển vọng giải quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ là rất thấp, nhưng những bất đồng về chủ quyền lãnh thổ không nhất thiết phải song hành cùng với việc quản lý tranh chấp Biển Đông. Thực tiễn quốc gia ở Đông Nam Á đã chứng minh điều này.

Đọc tiếp...

Tham vọng của Trung Quốc về vấn đề biển Đông: Một trật tự hàng hải hợp pháp liệu có khả thi?

Tham vọng của Trung Quốc về vấn đề biển Đông: Một trật tự hàng hải hợp pháp liệu có khả thi?

Tầm quan trọng của khu vực biển Đông từ xưa đến nay thể hiện sự cấp thiết trong việc thành lập nên một cơ chế chính trị đảm bảo an ninh và thiết lập trật tự hàng hải, nhưng nỗ lực này đã bị cản trở bởi các cuộc xung đột dân tộc, sự cạnh tranh các chiến lược trên biển và sự mất lòng tin giữa các quốc gia.

Đọc tiếp...

Châu Á Thái Bình Dương trong nhiệm kỳ Tổng thống Trump

Châu Á Thái Bình Dương trong nhiệm kỳ Tổng thống Trump

Tờ Các Vấn đề Biển (Maritime Issues) đã tiến hành cuộc phỏng vấn với bà Bonnie S. Glaser, cố vấn cấp cao về châu Á kiêm Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Sức mạnh Trung Quốc tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế Mỹ (CSIS) về các vấn đề liên quan tới Châu Á – Thái Bình Dương trong nhiệm kỳ Tổng thống Donald Trump. Nghiên cứu Biển Đông xin giới thiệu toàn văn bản dịch.

Đọc tiếp...

Tầm quan trọng của giải quyết tranh chấp Biển Đông đối với hòa bình thế giới

Tầm quan trọng của giải quyết tranh chấp Biển Đông đối với hòa bình thế giới

Biển Đông đã nổi lên như một điểm nóng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nếu xung đột xảy ra, tác động không chỉ đối với khu vực mà còn đối với toàn cầu. Cần có các hành động cụ thể để quản lý căng thẳng, trước hết là cam kết của Trung Quốc về phi quân sự hóa các đảo tranh chấp và chấm dứt thay đổi nguyên trạng, các bên cần nhanh chóng tiến tới ký kết bộ quy tắc ứng xử COC.

Đọc tiếp...

Trung Quốc vẫn chưa thắng trên Biển Đông

Trung Quốc vẫn chưa thắng trên Biển Đông

Nhiều ngưởi tin rằng, Trung Quốc đang nắm lợi thế ở Biển Đông. Tuy nhiên, xem xét kỹ hơn thì thấy Trung Quốc còn rất xa mới có thể hoàn thành được những mục tiêu của mình – thậm chí Trung Quốc còn có một số thất bại nghiêm trọng.

Đọc tiếp...

Cách thức để Mỹ ngăn chặn bước tiến trên biển của Trung Quốc: Chuyển hướng Chính sách

Cách thức để Mỹ ngăn chặn bước tiến trên biển của Trung Quốc: Chuyển hướng Chính sách

Nước Mỹ cần cảnh báo Trung Quốc rằng nếu nước này còn tiếp tục thực hiện các hành động hung hăng trên Biển Đông thì Mỹ sẽ từ bỏ quan điểm trung lập và trợ giúp các quốc gia khác trong khu vực bảo vệ các yêu sách của mình.

Đọc tiếp...

Ván bài ASEAN: Thách thức Biển Đông đối với Sự tự quyết và Thể chế

Ván bài ASEAN: Thách thức Biển Đông đối với Sự tự quyết và Thể chế

Biển Đông có những lợi ích quan trọng đối với tất cả các bên liên quan. ASEAN cũng không là ngoại lệ. Trên cơ sở đó, bài viết này xem xét các nguy cơ trong tranh chấp Biển Đông đối với ASEAN, đặc biệt chú trọng đến các lợi ích và hạn chế của tổ chức này. 

Đọc tiếp...

Khi các luật sư giỏi viết sai lịch sử: các bằng chứng thiếu tin cậy và tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông

Khi các luật sư giỏi viết sai lịch sử: các bằng chứng thiếu tin cậy và tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông

Bốn mươi năm thảo luận và tranh cãi về tranh chấp lãnh thổ Biển Đông đã bị bóp méo theo hướng câu chuyện của Trung Quốc mà ít dựa trên cơ sở trên thực tế. Điều này đã đưa đến những hệ lụy vượt ra ngoài khuôn khổ của giới học thuật, tác động đến cấp cao nhất của giới hoạch định chính sách. Đây là thời điểm để thế hệ các chuyên gia pháp lý mới xem xét lại các bằng chứng và đưa đến những kết luận mới.

Đọc tiếp...

Năm sắc thái của chiến lược “Vùng không phân định trắng đen” của Trung Quốc

Năm sắc thái của chiến lược “Vùng không phân định trắng đen” của Trung Quốc

Theo thời gian, chiến thuật “vùng không phân định trắng đen” đã đi theo hướng “bớt trắng thêm đen”, mang tính cưỡng ép hơn sau khi Bắc Kinh công bố “đường 9 đoạn” vào năm 2009. “Ngoại giao nụ cười” mang nhiều yếu tố “trắng” được thay thế bằng “ngoại giao cây gậy nhỏ”.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 11559 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin