19 - 10 - 2018 | 21:24
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Cách thức để Mỹ ngăn chặn bước tiến trên biển của Trung Quốc: Chuyển hướng Chính sách

Cách thức để Mỹ ngăn chặn bước tiến trên biển của Trung Quốc: Chuyển hướng Chính sách

Email In PDF.

Nước Mỹ cần cảnh báo Trung Quốc rằng nếu nước này còn tiếp tục thực hiện các hành động hung hăng trên Biển Đông thì Mỹ sẽ từ bỏ quan điểm trung lập và trợ giúp các quốc gia khác trong khu vực bảo vệ các yêu sách của mình.

 

Biển Đông[1] đang nhanh chóng trở thành tuyến đường biển quan trọng nhất thế giới. Với vai trò là hành lang chính kết nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, Biển Đông chuyên chở phần ba tổng giá trị thương mại hàng hải toàn cầu,[2] trị giá trên 5,000 tỷ đô la Mỹ, trong đó mỗi năm, 1,200 tỷ đô Mỹ đi vào hoặc đi ra khỏi nước Mỹ. Trữ lượng dầu khí và các khu vực đánh cá rộng lớn vốn cung cấp 12% lượng cá đánh bắt được hàng năm trên thế giới, cung cấp năng lượng và thực phẩm cho 620 triệu người trong khu vực Đông Nam Á.

Nhưng mọi thứ không diễn ra êm đẹp tại vùng biển này. Sáu bên, bao gồm Brunei, Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Đài Loan và Việt Nam, có những yêu sách chồng lấn nhau đối với hàng trăm đảo đá và rạn san hô nằm rải rác trong vùng biển này. Chủ quyền đối với những lãnh thổ đó không chỉ là thể diện quốc gia, mà còn mang lại những quyền lợi có giá trị khổng lồ liên quan đến khai thác dầu, đánh bắt cá, và triển khai tàu quân sự tại các vùng nước xung quanh. Do đó, trong hàng thập kỷ qua, các quốc gia đã phản đối mạnh mẽ yêu sách của nhau, đôi khi còn sử dụng đến cả vũ lực. Không bên nào thành công trong việc thống trị khu vực này, và Mỹ đã lựa chọn giữ quan điểm trung lập trong các tranh chấp chủ quyền. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Trung Quốc đã bắt đầu khẳng định các yêu sách của mình mạnh mẽ hơn[3] và giờ đây đang sẵn sàng để chiếm quyền kiểm soát vùng biển này. Nếu Trung Quốc thành công, quốc gia này sẽ giáng một đòn nặng nề đến ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực, làm nghiêng cân bằng quyền lực tại châu Á theo hướng có lợi cho Trung Quốc.

Thời gian đang không còn nhiều để ngăn chặn bước tiến của Trung Quốc. Với chính sách hiện đang lưỡng lự của Mỹ, chính quyền Trump cần phải cứng rắn hơn. Ngoài các biện pháp ngoại giao, chính quyền Trump cần có những biện pháp răn đe bằng việc cảnh báo Trung Quốc rằng nếu nước này còn hung hăng thì Mỹ sẽ từ bỏ quan điểm trung lập và trợ giúp các quốc gia khác trong khu vực bảo vệ các yêu sách của mình. Washington cần làm rõ rằng Mỹ có thể chấp nhận một sự bế tắc ở châu Á nhưng không thể chấp nhận quyền bá chủ của Trung Quốc.

Bước tiến của Trung Quốc

Trung Quốc đã khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với các thực thể trên Biển Đông và các quyền lợi biển đối với các vùng nước trong khu vực “đường 9 đoạn”, vốn trải dọc theo bờ biển của các bên yêu sách khác và bao trùm gần hết toàn bộ Biển Đông. Mặc dù trước đây Trung Quốc không đủ sức mạnh quân sự để thực thi các yêu sách này, nhưng điều này đang thay đổi nhanh chóng. Hơn nữa, sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, tình hình kinh tế khó khăn của các nước phương Tây đã khiến Bắc Kinh tin rằng đây là thời cơ chín muồi cho Trung Quốc thể hiện sức mạnh của mình.

Kể từ đó, Trung Quốc đã tiến hành một loạt hành động để giành kiểm soát tại Biển Đông. Vào năm 2009, các tàu Trung Quốc đã quấy rối tàu tuần dương Impeccable của Mỹ khi tàu này đang thực hiện nhiệm vụ hàng ngày tại Biển Đông. Vào năm 2011, tàu tuần tra của Trung Quốc đã cắt cáp của một tàu Việt Nam đang thăm dò dầu khí. Vào năm 2012, lực lượng hải quân và tuần duyên Trung Quốc đã xâm chiếm và phong tỏa bãi cạn Scarborough, một rạn san hô đang tranh chấp có vị trí tại vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Vào năm 2013, Trung Quốc đã cử một tàu tuần tra có vũ trang vào vùng biển của Indonesia để yêu cầu thả một thuỷ thủ Trung Quốc bị chính quyền Indonesia bắt giữ do đánh bắt cá bất hợp pháp tại vùng nước xung quanh quần đảo Natuna của Indonesia.

Sau đó, vào đầu năm 2014, các nỗ lực của Trung Quốc để khẳng định quyền hành trên Biển Đông đã gia tăng nhanh chóng. Các tàu Trung Quốc đã bắt đầu các dự án nạo vét để cải tạo bảy rạn san hô mà Trung Quốc đã kiểm soát ở quần đảo Trường Sa, một quần đảo nằm ở nửa phía nam của Biển Đông. Trong khoảng thời gian 18 tháng, Trung Quốc đã cải tạo được gần 3.000 mẫu đất. (Trái lại, trong vài thập kỷ trước, Malaysia, Philippines, Đài Loan và Việt Nam đã cải tạo tổng cộng ít hơn 150 mẫu). Mặc dù có sự đảm bảo của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vào tháng 9 năm 2015 rằng Trung Quốc "không có ý định quân sự hoá" Biển Đông, Trung Quốc đã nhanh chóng chuyển đổi các đảo nhân tạo của mình thành các căn cứ quân sự tiên tiến, gồm đầy đủ các sân bay, đường băng, cảng, và hệ thống phòng không và chống tên lửa. Trong một khoảng thời gian ngắn, Trung Quốc đã đặt nền móng cho việc kiểm soát[4] Biển Đông.

Nếu Trung Quốc thành công trong nỗ lực này, Trung Quốc sẽ dễ dàng thành lập một vùng ảnh hưởng khổng lồ ở bờ biển phía Nam của mình, không cho các quốc gia khác trong khu vực quyền lựa chọn nào khác ngoài việc tuân theo ý chí của Trung Quốc. Điều này sẽ làm cản trở các mối liên minh và hợp tác của Mỹ, đe doạ việc Mỹ tiếp cận thị trường và các nguồn lực của khu vực, và hạn chế khả năng của Mỹ trong việc triển khai sức mạnh quân sự và ảnh hưởng chính trị ở châu Á.

Nước Mỹ không can dự

Mặc cho nhiều mối liên hệ tol ớn, Mỹ đã không thể ngăn chặn sự quả quyết của Trung Quốc ở Biển Đông. Về phần mình, Washington đã tin rằng khi Trung Quốc phát triển mạnh hơn và tham gia nhiều hơn với thế giới, Trung Quốc tự nhiên sẽ chấp nhận các quy tắc và chuẩn mực quốc tế. Trong hơn một thập kỷ, kim chỉ nam của chính sách của Mỹ là đưa Trung Quốc vào khuôn khổ vào thứ mà Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Robert Zoellick mô tả năm 2005 là “một bên liên quan có trách nhiệm”- sẽ tuân thủ hệ thống quốc tế hoặc, ít nhất, hợp tác với các cường quốc hiện thời để xem xét lại trật tự toàn cầu. Các nhà hoạch định chính sách của Mỹ đã cho rằng họ có thể giải quyết tốt hơn những thách thức toàn cầu khi có Bắc Kinh cùng tham gia.

Mỹ bổ sung kế hoạch nhằm đưa Trung Quốc hội nhập vào hệ thống chủ đạo với nỗ lực giảm thiểu những đối đầu không đáng có. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã nói về nhu cầu cần “tìm một câu trả lời mới cho câu hỏi điều gì sẽ xảy ra khi một cường quốc hiện thời và một cường quốc đang trỗi dậy đụng độ nhau.” Bà Clinton đang đề cập đến mối nguy hiểm của việc rơi vào “bẫy Thucydides,” xung đột giữa một cường quốc nguyên trạng và một cường quốc mới nổi. Như một sử gia người Athen đã viết, “sự trỗi dậy của Athens và nỗi lo sợ mà điều đó gây ra ở Sparta đã làm cho chiến tranh trở thành điều chắc chắn xảy ra.” Thận trọng trước một hệ quả tương tự, các nhà hoạch định chính sách Mỹ đã tìm kiếm các phương pháp để giảm thiểu căng thẳng và phòng tránh xung đột bất cứ khi nào có thể.

Cách tiếp cận này đã có những thành công nhất định. Hiệp định khí hậu Paris và Thoả thuận hạt nhân Iran đều là kết quả trực tiếp từ các nỗ lực song phương trong việc giải quyết cùng nhau các vấn đề toàn cầu. Trong khi đó, các quan chức Mỹ và Trung Quốc đã trao đổi thường xuyên, giảm thiểu những hiểu lầm và thậm chí tránh được các khủng hoảng nghiêm trọng mà có thể dẫn tới xung đột tức thì.

Áp dụng chiến thuật này vào Biển Đông, chính quyền Obama tạo ra áp lực ngoại giao[5] lên tất cả các bên yêu sách để giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Để ngăn việc Trung Quốc sử dụng vũ lực, Mỹ đã tăng cường hiện diện quân sự trong khu vực trong khi làm sâu sắc hơn các quan hệ liên minh và hợp tác như một phần trong chiến lược “tái cân bằng” sang châu Á. Và mặc dù Bắc Kinh hiếm khi nhìn nhận điều đó theo cách này, Mỹ đã quan tâm đến việc không lựa chọn ngả về bên nào trong các tranh chấp chủ quyền, ví dụ, cử các tàu đến để thực thi quyền tự do hàng hải trong các vùng nước yêu sách bởi nhiều bên, không chỉ có Trung Quốc.

Mặc dù chiến lược này đã giúp Mỹ tránh được các khủng hoảng nghiêm trọng, nó đã không ngăn cản được sự mở rộng của Trung Quốc tại Biển Đông. Vào năm 2015, nhắc lại một quan điểm rằng các quan chức Mỹ đã truyền đạt hơn một thập kỷ, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã tuyên bố trong một cuộc họp báo chung[6] với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, “Mỹ hoan nghênh sự trỗi dậy hoà bình, ổn định, thịnh vượng và là một bên tham gia có trách nhiệm trong các vấn đề toàn cầu của Trung Quốc.” Tuy nhiên Washington đã không chỉ rõ rằng nước Mỹ sẽ làm gì nếu Bắc Kinh không đáp ứng được tiêu chuẩn đó - như thường xảy ra trong các năm gần đây. Mong muốn của Mỹ trong việc né tránh xung đột có nghĩa rằng gần như mọi lúc Trung Quốc hành động một cách cương quyết hay thách thức luật pháp quốc tế ở Biển Đông, Washington ngay lập tức hành động để giảm căng thẳng, qua đó để cho Trung Quốc giành thêm được lợi thế.

Đây sẽ là một chiến lược hợp lý nếu né tránh chiến tranh là thách thức duy nhất tạo ra bởi sự trỗi dậy của Trung Quốc. Nhưng vấn đề không phải như vậy. Quân đội Mỹ và đồng minh tiếp tục ngăn cản Trung Quốc gây ra sự đối đầu quân sự nghiêm trọng với Mỹ, nhưng không thể kiểm soát việc Trung Quốc dần dần mở rộng ảnh hưởng. Thay vào đó, cách tiếp cận né tránh rủi ro của Mỹ đã cho phép Trung Quốc từng bước thiết lập kiểm soát đối với toàn bộ Biển Đông.

Các nhà hoạch định chính sách Mỹ cần nhận ra rằng hành động của Trung Quốc trên biển là dựa trên nhận thức của nước này về mức độ Mỹ sẽ phản ứng. Sự thiếu phản kháng của Mỹ đã khiến Bắc Kinh cho rằng Mỹ sẽ không để quan hệ với Trung Quốc bị ảnh hưởng bởi vấn đề Biển Đông. Do đó, mối đe doạ lớn nhất đối với Mỹ ngày nay ở châu Á là bá quyền của Trung Quốc, chứ không phải chiến tranh giữa các siêu cường. Vai trò lãnh đạo trong khu vực của Mỹ sẽ dần mất đi chứ không sụp đổ ngay lập tức.

Cú nước rút cuối cùng

Tin tốt là mặc dù Trung Quốc đã tạo ra những bước tiến lớn tiến tới kiểm soát hoàn toàn Biển Đông, Trung Quốc vẫn chưa đạt được điều này. Để hoàn thành việc kiểm soát, Trung Quốc cần cải tạo thêm đảo, đặc biệt là tại bãi cạn Scarborough nằm ở phía đông Biển Đông, nơi Trung Quốc đang thiếu căn cứ hoạt động. Sau đó, Trung Quốc sẽ cần phát triển khả năng ngăn cản quân đội nước ngoài tiếp cận vùng nước và vùng trời phía trên Biển Đông, bằng việc triển khai một loạt các trang thiết bị quân sự tối tân tại các căn cứ - máy bay chiến đấu, tên lửa hành trình chống hạm, tên lửa phòng không tầm xa và hơn thế nữa.

Mỹ trước đây đã tìm cách ngăn chặn Trung Quốc thực hiện các bước kể trên. Trong những năm gần đây, Washington đã khuyến khích Bắc Kinh và các bên yêu sách khác thông qua chính sách “3 không”: không cải tạo đảo thêm nữa, không xây dựng thêm cơ sở hạ tầng mới, và không quân sự hoá các cơ sở hiện có. Nhưng Mỹ chưa bao giờ giải thích các hậu quả nếu không tuân theo các yêu cầu này. Trong một vài trường hợp, Mỹ, cùng với ASEAN, G-7, và EU đã chỉ trích các hành động của Trung Quốc. Nhưng Bắc Kinh luôn lờ đi chỉ trích, và các nước khác cũng không gây sức ép về vấn đề này lâu.

Cần xem xét phản ứng của Bắc Kinh đối với quyết định mang tính bước ngoặt đưa ra vào tháng 7 năm 2016 bởi Toà trọng tài quốc tế thành lập theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển. Tòa quyết định rằng hầu hết yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông là bất hợp pháp dưới góc độ luật pháp quốc tế. Mỹ và các quốc gia khác đã kêu gọi Trung Quốc tuân thủ phán quyết nhưng đã không thực hiện hành động nào để thực thi điều này. Do đó Trung Quốc đã đơn giản chỉ nhún vai cho qua và tiếp tục quân sự hoá các đảo và kiểm soát các vùng nước xung quanh. Mặc dù Mỹ đã tiếp tục thể hiện sức mạnh đáng kể trong khu vực thông qua diễn tập và kiểm soát quân sự, Mỹ chưa bao giờ thể hiện rõ cho Trung Quốc thấy những động thái đó có ý nghĩa gì. Các quan chức Mỹ thường coi đó là các động thái biểu dương sự cương quyết. Nhưng họ chưa bao giờ giải thích chính xác rằng Mỹ sẽ cương quyết làm gì. Với câu hỏi còn để ngỏ, chính quyền Trung Quốc không thấy cần thiết phải đảo ngược tiến trình.

Với lý do tương tự, ý tưởng của Tổng thống Mỹ Donald Trump trong việc khôi phục chiến lược “hoà bình thông qua sức mạnh” của Tổng thống Ronald Reagan bằng việc tăng cường sức mạnh quân sự của Mỹ sẽ không kéo được Trung Quốc trở lại. Vấn đề không phải Trung Quốc không e ngại sức mạnh quân sự của Mỹ. Trái lại, Trung Quốc còn lo sợ sẽ chịu tổn thất nặng nề nếu để xảy ra chiến tranh với Mỹ. Nhưng Trung Quốc cũng tin rằng Mỹ sẽ chỉ đặt ra những cái giá nhỏ cho những hành động sai trái dừng lại dưới mức hung hăng mà thôi. Bất kể bao nhiêu tàu chiến, máy bay chiến đấu, và vũ khí hạt nhân Mỹ triển khai, tính toán đó sẽ không thay đổi.

Dám hành động

Để điều chỉnh sự hăng hái của Trung Quốc, Mỹ cần đưa ra một cảnh báo rõ ràng: rằng nếu Trung Quốc tiếp tục xây dựng các đảo nhân tạo hay triển khai các khí tài quân sự mạnh, như tên lửa tầm xa hay máy bay chiến đấu, trên các đảo Trung Quốc đã xây dựng, Mỹ sẽ thay đổi hoàn toàn chính sách đối với Biển Đông. Từ bỏ lập trường trung lập, Washington sẽ ngừng kêu gọi kiềm chế và thay vào đó gia tăng nỗ lực trợ giúp các quốc gia trong khu vực phòng vệ chống lại sự cưỡng ép của Trung Quốc.

Trong trường hợp này, Mỹ sẽ làm việc với các quốc gia khác với các yêu sách trên biển để cải tạo đảo xung quanh lãnh thổ đang chiếm đóng bởi các nước này và củng cố vững chắc các căn cứ. Mỹ cũng sẽ triển khai tập trận chung và bán cho các nước này các loại vũ được các chuyên gia quân sự biết đến như  khả năng “chống can thiệp”, cung cấp cho các quốc gia này các công cụ có giá cả phải chăng để ngăn chặn sự cưỡng ép của quân đội Trung Quốc tại và xung quanh khu vực. Những vũ khí đó bao gồm máy bay do thám không người lái, mìn biển, tên lửa chống hạm trên đất liền, tàu tên lửa tấn công nhanh và các hệ thống phòng không di động.

Một chương trình như vậy sẽ làm cho các nỗ lực thống trị biển và vùng trời phía trên biển của Trung Quốc trở nên mạo hiểm hơn. Mỹ sẽ không nhắm tới việc tích luỹ đủ hoả lực tập thể để đánh thắng Quân đội Giải phóng Nhân dân, hay thậm chí kiểm soát các vùng biển lớn; thay vào đó, mục tiêu sẽ dành cho các đối tác trong khu vực có khả năng ngăn chặn Trung Quốc tiếp cận các tuyến đường biển quan trọng, các bờ biển lân cận và các nút thắt hàng hải.

Mỹ nên ngả sang các đồng minh và đối tác đã có mối quan hệ an ninh chặt chẽ ở Đông Nam Á để được giúp đỡ. Nhật Bản có thể đem lại những hợp tác có giá trị chặt chẽ với một vài quốc gia xung quanh Biển Đông, do Nhật Bản đã coi Trung Quốc là mối đe doạ, và gần đây đang phát triển hệ thống phòng thủ của riêng mình chống lại sự xâm phạm của Trung Quốc đối với các đảo ngoài khơi của nước này tại Biển Hoa Đông. Trong khi đó, Australia có mối quan hệ thân thiết với Indonesia và Malaysia hơn là Mỹ, cũng tương tự như Ấn Độ với Việt Nam - quan hệ mà sẽ cho phép Australia và Ấn Độ cung cấp sức mạnh quân sự đáng kể hơn cho các quốc gia này so với Washington.

Nếu Bắc Kinh từ chối thay đổi lộ trình, Washington cũng nên đàm phán các thoả thuận mới với các quốc gia trong khu vực để cho phép Mỹ và các lực lượng thân thiện khác ghé thăm hay trong một số trường hợp, thường trú tại các căn cứ trên Biển Đông. Mỹ nên xem xét tìm kiếm việc tiếp cận đảo Ba Bình (chiếm đóng bởi Đài Loan), đảo Thị Tứ (chiếm đóng bởi Philippines), và đảo Trường Sa (chiếm đóng bởi Việt Nam) - các thực thể thuộc quần đảo Trường Sa và là các đảo tự nhiên lớn thứ nhất, nhì, và tư tại Biển Đông, theo thứ tự. Ngoài việc giúp Mỹ và các đối tác tập luyện cùng nhau dễ dàng hơn, sở hữu các lực lượng trên các đảo này sẽ tạo ra các “dây chằng mới” ngăn cản Trung Quốc, gia tăng nguy cơ cho các hoạt động cưỡng chế quân sự của nước này.

Biện pháp răn đe mới này sẽ đem đến cho Bắc Kinh một lựa chọn không dễ chịu: một mặt, Trung Quốc có thể quân sự hoá thêm Biển Đông và phải đối đầu với các quốc gia có căn cứ và quân đội hiện đại, được hậu thuẫn bởi Mỹ, hoặc, mặt khác, dừng việc quân sự hoá các đảo, từ bỏ các kế hoạch cải tạo đảo, và bắt đầu làm việc nghiêm túc để tìm một giải pháp ngoại giao.

Duy trì hoà bình

Để chiến lược trên thành công, các quốc gia trong khu vực sẽ cần đầu tư quân đội mạnh hơn và hợp tác chặt chẽ hơn với Mỹ. May mắn là, điều đó đang xảy ra. Việt Nam đã mua một hạm đội tàu ngầm đắt đỏ của Nga để ngăn chặn Trung Quốc; Đài Loan gần đây tuyên bố kế hoạch xây dựng quân đội của riêng mình. Indonesia đã tăng cường các cuộc tập trận gần quần đảo Natuna giàu tài nguyên. Và mặc cho những phát ngôn thù địch của Tổng thống Rodrigo Duterte, Philippines đã không huỷ kế hoạch cho phép Mỹ đưa thêm tàu chiến và máy bay đến các cảng và phi trường của Philippines dọc theo rìa phía đông Biển Đông.

Nhưng những rào cản đáng kể vẫn tồn tại. Nhiều quốc gia trong khu vực lo sợ rằng Trung Quốc sẽ trả đũa bằng các hình phạt kinh tế nếu các quốc gia này liên kết với Mỹ. Sau quyết định rút khỏi Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) của Trump, các quốc gia Đông Nam Á càng tin rằng Trung Quốc sẽ đương nhiên thống trị trật tự kinh tế trong khu vực, thậm chí nhiều quốc gia đang lo ngại với viễn cảnh đó. Nhận thức đang gia tăng này sẽ làm cho các quốc gia trong khu vực lưỡng lự trong việc tham gia các hoạt động quân sự với Mỹ do lo sợ sự trả đũa của Trung Quốc. Cách duy nhất cho Washington ngăn chặn xu hướng nguy hiểm này là cung cấp một giải pháp khả thi thay thế cho việc lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc. Điều đó có thể là khôi phục lại một phiên bản TPP hoặc đề xuất một sáng kiến mới và đầy tham vọng về thương mại và đầu tư trong khu vực. Mỹ không thể đánh bại một thứ gì mà không có gì trong tay.

Washington cũng nên xây dựng hình ảnh tích cực hơn trong chính trị nội bộ các quốc gia với các yêu sách ở Biển Đông bằng việc phổ biến công khai thông tin về các hoạt động của Trung Quốc trên biển. Các nhà báo và chuyên gia quốc phòng hiện đang phải dựa vào hình ảnh lẻ tẻ và không đầy đủ từ các vệ tinh thương mại để biết được các hoạt động của Trung Quốc. Chính phủ Mỹ nên cải thiện điều này bằng việc bổ sung thêm các báo cáo thường xuyên và các hình ảnh về việc triển khai vũ khí của Trung Quốc, cũng như các tàu hải quân và tàu tuần tra của Trung Quốc và các tàu đánh cá do chính phủ Trung Quốc hậu thuẫn hoạt động bất hợp pháp tại các vùng đặc quyền kinh tế và lãnh hải của các nước khác.

Các nước trong khu vực cũng nhiều khả năng sẽ hợp tác với Washington nếu họ có thể tin tưởng vào Mỹ để duy trì luật pháp quốc tế. Để đạt được mục đích đó, hải quân Mỹ nên thường xuyên tiến hành tuần tra thực thi quyền tự do hàng hải trên Biển Đông, không phải thực hiện điều này chỉ khi Washington muốn ghi điểm về ngoại giao.

Một số nhà phê bình phản đối biện pháp răn đe mạnh mẽ hơn lập luận rằng điều đó chỉ khuyến khích Trung Quốc gia tăng gấp đôi việc quân sự hoá. Nhưng trong vài năm trở lại đây, Mỹ đã chứng tỏ rằng bằng thông báo về những hệ quả rõ ràng, Mỹ có thể thay đổi hành vi của Trung Quốc. Vào năm 2015, khi chính quyền Obama đe doạ đặt ra các trừng phạt[7] đáp trả lại việc đánh cắp bí mật thương mại của Mỹ do Trung Quốc hậu thuẫn, chính phủ Trung Quốc đã nhanh chóng hạn chế các hoạt động bất hợp pháp của mình. Và trong những tháng cuối của chính quyền Obama, Bắc Kinh cuối cùng đã bắt đầu cho đóng cửa các công ty làm ăn bất hợp pháp với Triều Tiên sau khi Washington nói rằng Mỹ sẽ áp dụng các biện pháp trừng phạt tài chính với các công ty Trung Quốc đang lẩn trốn các lệnh trừng phạt đối với Triều Tiên.

Hơn nữa, sự phản kháng mạnh mẽ hơn của Mỹ sẽ không, như một số người khẳng định, làm dấy lên tư tưởng diều hâu trong hàng ngũ lãnh đạo Trung Quốc. Trên thực tế, những người ở Bắc Kinh ủng hộ việc quân sự hoá hơn nữa Biển Đông làm điều đó trên cơ sở rằng Mỹ không quyết đoán, chứ không phải Trung Quốc hiếu chiến. Cơ hội thực sự duy nhất cho giải pháp hoà bình xử lý các tranh chấp nằm ở việc ngăn chặn động lực của Trung Quốc. Bắc Kinh sẽ không thoả hiệp khi thấy mình đang đẩy một cánh cửa mở.

Và trong trường hợp Trung Quốc không từ bỏ đường lối xét lại, Mỹ vẫn có thể chấp nhận một Biển Đông bị quân sự hoá hơn, miễn là cân bằng quyền lực không ngả quá về phía Trung Quốc. Đó là lý do tại sao Trung Quốc sẽ nhận thấy một mối đe doạ rõ ràng của việc Mỹ sẽ thúc đẩy hỗ trợ quân sự cho các quốc gia yêu sách khác trên Biển Đông. Đảm bảo rằng các quốc gia trong khu vực có thể đóng góp cho việc ngăn chặn sự hung hăng của Trung Quốc sẽ đem lại sự ổn định hơn là chỉ dựa vào thiện chí của Trung Quốc hay quân đội Mỹ để duy trì hoà bình. Phải thừa nhận là, với rất nhiều lực lượng vũ trang triển khai trong một môi trường căng thẳng, các quốc gia cần phát triển các cơ chế mới để quản lý khủng hoảng và phòng ngừa leo thang không lường trước. Nhưng trong những năm gần đây, ASEAN đã tạo ra bước tiến đáng kể trên mặt trận này bằng việc đưa ra các biện pháp mới để xây dựng lòng tin giữa quân đội các nước trong khu vực, các nỗ lực mà Mỹ nên ủng hộ.

Cuối cùng, một số nhà phê bình đối với một chiến lược mạnh mẽ hơn của Mỹ tuyên bố rằng Biển Đông là không đáng để rắc rối, vì phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc có thể không nguy hiểm. Nhưng với việc sẵn sàng sử dụng sức kinh tế và quân sự của Bắc Kinh đối với các mục đích chính trị, sự đánh cược này ngày càng trở nên mạo hiểm hơn. Và ngay cả khi sự kiểm soát của Trung Quốc bắt đầu một cách hòa bình, sẽ không có gì bảo đảm rằng Trung Quốc sẽ giữ nguyên tình trạng hoà bình đó. Cách tốt nhất để ngăn xung đột trên biển là để Mỹ làm những gì vốn đã mang lại thành công cho đất nước này trong hơn một thế kỷ qua: ngăn chặn bất kỳ cường quốc nào khác chỉ huy mình.

Ely Ratner là nghiên cứu viên cao cấp của Hội đồng Chính sách Đối ngoại Theo dõi Ely Ratner trên Twitter @elyratner. Bài viết được đăng trên Foreign Affairs.

Biên dịch: Hoàng Minh

Hiệu đính: Thanh Hải

Bài dịch thuộc bản quyền Nghiên cứu Biển Đông. Đề nghị chỉ được dẫn đường link, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập.

[1] https://www.foreignaffairs.com/search?qs=South+China+Sea

[2] https://www.foreignaffairs.com/articles/2016-06-13/truth-about-trade

[3] https://www.foreignaffairs.com/articles/china/2014-07-13/pandoras-sandbox

[4] https://www.foreignaffairs.com/articles/china/2016-03-21/chinas-short-term-victory-south-china-sea

[5] https://www.foreignaffairs.com/articles/2015-11-25/make-no-mistake

[6] https://obamawhitehouse.archives.gov/the-press-office/2015/09/25/remarks-president-obama-and- president-xi-peoples-republic-china-joint

[7] https://www.nytimes.com/2015/09/17/us/politics/obama-hints-at-sanctions-against-china-over- cyberattacks.html?mcubz=2&_r=0


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Trong vùng biển từng được cho là đã đạt được tiến bộ, một mặt trận đáng lo ngại đang hình thành: làn sóng ngầm liên kết tranh chấp ở Biển Đông với cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.

Đọc tiếp...

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Việc thực thi hay chấp nhận Phán quyết là điều quan trọng để giải quyết tranh chấp, nhưng quan trọng hơn là các quốc gia và những nước phụ thuộc vào hoạt động giao thương trong khu vực phải tìm kiếm giải pháp hòa bình và thực dụng để cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan.

Đọc tiếp...

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Phân tích chuyên sâu cho thấy, hành động dân quân biển Trung Quốc “cấu thành” trách nhiệm pháp lý cho chính phủ Trung Quốc, đồng thời làm xói mòn các ngành luật chuyên biệt của luật pháp quốc tế. Phân tích cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể để đối phó với thách thức mà dân quân biển Trung Quốc đặt ra.

Đọc tiếp...

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Mặc dù Phán quyết của Toà tập trung chủ yếu vào việc làm rõ phạm vi các quyền lợi biển của Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, tuy nhiên phần về hoạt động cải tạo và xây đảo của Trung Quốc cũng rất đáng chú ý. Với mục đích này, bài viết sẽ kiểm chứng những kết luận của Tòa về tính pháp lý trong hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng như những quy định pháp lý về những hoạt động này.

Đọc tiếp...

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck hoặc đi theo mô hình của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng.

Đọc tiếp...

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Các tác giả bài phân tích cho rằng việc làm sống lại lập luận về “cân bằng quyền lực liên kết” sẽ đưa ra những ý tưởng mới giúp luật quốc tế có thể phát huy khả năng của mình trong tranh chấp Biển Đông. Từ đó, bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu liên ngành giữa Luật quốc tế và Nghiên cứu chiến lược nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên biển Đông dựa trên các nguyên tắc pháp luật.

Đọc tiếp...

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

Bài viết đánh giá tổng quan về mối quan hệ hợp tác biển Trung Quốc ASEAN cũng như những động lực và tác động đằng sau những sáng kiến hợp tác giữa hai bên. Bên cạnh đó, bài viết đưa ra phương hướng và triển vọng để Biển Đông trở thành “vùng biển hợp tác”, góp phần duy trì hòa bình, ổn định khu vực.

Đọc tiếp...

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte, Philippines được xem là người bạn thân mới của Trung Quốc. Tuy nhiên cách làm này của Tổng thống Philippines đã gây ra phản ứng trong nước trên diện rộng, khiến cho chính quyền của Duterte phải cẩn thận hơn trong những bước đi tiếp theo.

Đọc tiếp...

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Bài viết đánh giá các tác động của Phán quyết đối với tự do hàng hải và việc sử dụng vũ lực ở Biển Đông, xác định các kết luận rút ra từ Phán quyết và các vấn đề tồn tại. Phán quyết cũng gián tiếp đặt ra vấn đề việc sử dụng vũ lực để bảo vệ các quyền lưu thông trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Vai trò lãnh đạo đang sa sút của Mỹ và trật tự dựa trên nguyên tắc đang suy yếu có quan hệ phụ thuộc qua lại với chủ nghĩa xét lại và thái độ quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh. Cách thức điều này diễn ra ở Biển Đông là một tiền lệ nguy hiểm cho các điểm nóng quân sự khác trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Khu vực này có thể làm gì để ứng phó?

Đọc tiếp...

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Chế độ quản trị bằng luật pháp quốc tế sẽ đứng vững hay sụp đổ là phụ thuộc vào việc các tàu thuyền dân sự có tự tin hoạt động ở những nơi và theo cách thức họ muốn trong khuôn khổ các quyền lợi hợp pháp quốc tế của mình hay không.

Đọc tiếp...

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Vì sao việc định nghĩa hành vi sử dụng vũ lực có ý nghĩa quan trọng trong luật quốc tế? Và việc nhận định các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông là hành vi sử dụng vũ lực theo nghĩa của Điều 2(4) Hiến chương Liên Hợp Quốc có tác động như thế nào về mặt pháp lý?

Đọc tiếp...

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông được thể hiện qua động thái thay đổi lập trường từ “không dính líu” sang “can dự có chừng mực” và “tích cực can dự” trong các diễn biến liên quan đến Biển Đông. Đồng thời bài viết cũng đưa ra một số nhận xét về quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông từ sau Chiến tranh Lạnh.

Đọc tiếp...

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Trung Quốc đang nỗ lực sử dụng sức mạnh quân sự nhằm hủy hoại các quyền mà luật pháp quốc tế dành cho các quốc gia, đe dọa đến hòa bình và an ninh thế giới.

Đọc tiếp...

Biển Đông liệu có trở thành "ao nhà" của Trung Quốc?

Biển Đông liệu có trở thành

Nếu không hành động sớm, rất có thể Biển Đông sẽ thực sự trở thành một cái ao của Trung Quốc, vừa ô nhiễm vừa dần cạn kiệt nguồn cá.

Đọc tiếp...

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Mỹ cần chủ động có những biện pháp cụ thể để ngăn chặn Trung Quốc. Nếu không, sự thụ động và mặc nhận sẽ làm suy yếu vị thế của Mỹ, khiến Trung Quốc trở nên táo bạo hơn nữa trong việc thực hiện ý đồ của mình mà không gặp phải bất kỳ thách thức hay trở ngại nào.

Đọc tiếp...

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nếu bất kỳ điều gì xảy ra với các nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc - cho dù đó là một vụ tràn phóng xạ ra biển, hay hư hại khoang chứa do các cơn bão nhiệt đới, hay một vụ va chạm vô tình với các tàu đi qua - đều có tác động nghiêm trọng về môi trường, kinh tế và tâm lý đối với khu vực.

Đọc tiếp...

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân nằm ở trung tâm khát vọng của Trung Quốc kết hợp với an ninh năng lượng, chiến lược hàng hải, sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ nghĩa dân tộc về hải quân, chính sách đối ngoại, triển khai sức mạnh và sự lãnh đạo trong khu vực.

Đọc tiếp...

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Ban Biên Tập: Ngày 22/4/2018, Tờ Hoa Nam Buổi Sáng (South China Morning Post) đăng bài báo của tác giả Stephen Chen về đề xuất hình thành một đường biên giới liên tục trên cơ sở Đường lưỡi bò của một nhóm học giả Trung Quốc (do chính phủ Trung Quốc tài trợ). Để góp phần cung cấp thông tin cho bạn đọc, Nghiên cứu Biển Đông đã dịch và đăng lại bài báo này.

Đọc tiếp...

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Việc khởi kiện Trung Quốc là thời khắc lịch sử trong quan hệ đối ngoại của Philippines: Bởi đây là lần đầu tiên Philippines tìm đến luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp chính trị. Đọc tiếp...

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Tháng 7/2016, Tòa Trọng tài đã ra phán quyết cho vụ Philippines kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở Biển Đông. Tuy lúc đầu đưa ra phản ứng bác bỏ, nhưng Tổng thống Thái Anh Văn đã thông qua một chính sách Biển Đông mới không trực tiếp thách thức quyết định của Tòa.

Đọc tiếp...

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Trung Quốc và Philippines cho rằng cơ chế này đã đạt được một số dấu hiệu lạc quan ban đầu. Tuy nhiên, theo đánh giá và phân tích từ các nhà quan sát, vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi họ có thể chuyển sang giai đoạn hoạt động chung tiếp theo, chứ chưa nói đến cùng phát triển.

Đọc tiếp...

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang diễn ra chỉ hơn 1 tháng sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến New Delhi vào tháng 1 đã thể hiện rõ nét quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước tại thời điểm Ấn Độ tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam đang phải đối mặt với các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Ấn Độ và Biển Đông

Ấn Độ và Biển Đông

Quyết định của Ấn Độ muốn tự tham gia vào một môi trường phức tạp ở Biển Đông, ngay cả khi có nguy cơ kích động nước láng giềng khổng lồ của mình, cho thấy tầm quan trọng mà New Delhi đặt vào khu vực này cũng như các tuyến đường biển ở đây. 

Đọc tiếp...

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Mặc dù chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đã chính thức kết thúc, ảnh hưởng của chiến lược này trong những năm gần đây vẫn rất sâu sắc. Chính quyền Donald Trump vẫn tiếp tục thúc đẩy can dự khu vực, trong đó Biển Đông là khu vực then chốt để quay trở châu Á-Thái Bình Dương, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

Dưới thời ông Duterte giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, khối này đã đánh mất một cơ hội quan trọng để “lên án hoặc trừng phạt” Trung Quốc. Đáng quan ngại hơn là điều này đã làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN trong việc giải quyết một trong những điểm nóng nan giải và dễ bùng nổ nhất trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp...

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Năng lực hải quân không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc có những hàm ý khó nắm bắt, và quan trọng hơn là những tác động không thể xem nhẹ. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách an ninh của Mỹ và các nước đồng minh cần phải đánh giá kỹ lưỡng vấn đề. Nghiên cứu này đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách.

Đọc tiếp...

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Việc hiểu chính xác chiến lược quân sự - dân sự của Trung Quốc trên Biển Đông và sự đóng góp của PLA trong việc hình thành chiến lược này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hiểu rõ hơn sự điều chỉnh chính sách Biển Đông của Chủ tịch Tập Cận Bình và hành vi quyết đoán của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Khả năng đánh bắt ngày càng phát triển của Trung Quốc dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường biển. Tuy nhiên, nghề cá trở thành một thành tố quan trọng trong yêu sách chủ quyền vùng biển của Trung Quốc. Các khái niệm như chủ quyền, quyền lãnh thổ và quyền đánh bắt ẩn ý rằng rằng nghề cá trở thành một lĩnh vực “chủ quyền hoá”.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Chính sách của Mỹ ở Biển Đông hiện nay đã không thể giải quyết hoàn toàn 2 vấn đề quan trọng liên quan đến Trung Quốc. Bài phân tích sẽ đánh giá cách thức chiến lược của Mỹ ở Biển Đông có thể được tối ưu hóa nhằm duy trì ưu thế quân sự trong khi đối phó nguy cơ bất ổn định bắt nguồn từ một cuộc xung đột với Trung Quốc.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 8655 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin