20 - 9 - 2018 | 4:21
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Khi các luật sư giỏi viết sai lịch sử: các bằng chứng thiếu tin cậy và tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông

Khi các luật sư giỏi viết sai lịch sử: các bằng chứng thiếu tin cậy và tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông

Email In PDF.

Bốn mươi năm thảo luận và tranh cãi về tranh chấp lãnh thổ Biển Đông đã bị bóp méo theo hướng câu chuyện của Trung Quốc mà ít dựa trên cơ sở trên thực tế. Điều này đã đưa đến những hệ lụy vượt ra ngoài khuôn khổ của giới học thuật, tác động đến cấp cao nhất của giới hoạch định chính sách. Đây là thời điểm để thế hệ các chuyên gia pháp lý mới xem xét lại các bằng chứng và đưa đến những kết luận mới.

 

Tóm tắt

Phán quyết gần đây của Tòa Trọng tài trong vụ Philippines kiện Trung Quốc thúc đẩy các luật sư xem xét lại những bằng chứng lịch sử do các bên tranh chấp Biển Đông đưa ra. Mặc dù Tòa Trọng tài không giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ quyền hay ranh giới lãnh thổ, nhưng Tòa vẫn có quyền đặt nghi vấn về quyền lịch sử Trung Quốc tuyên bố để củng cố yêu sách của nước này. Các bằng chứng mới từ những nguồn khác cũng cho thấy thảo luận về vấn đề này không nên chỉ giới hạn trong những lập luận được đưa ra trong một số bài viết cách đây 30 năm. Xem xét kỹ các tài liệu được sử dụng trong các bài viết này cho thấy chúng chủ yếu dựa vào các nguồn của Trung Quốc. Các nghiên cứu lịch sử gần đây đưa ra những tư liệu mới về quá trình phát triển của các yêu sách chủ quyền đối lập tại Biển Đông. Tuy nhiên, các cuộc thảo luận pháp lý quốc tế vẫn chưa xem xét những tư liệu này. Bài viết sẽ điểm một số tác phẩm nổi bật trong lĩnh vực này và kêu gọi các bên đánh giá lại những tài liệu này. Theo đó, các bên có thể thảo luận về tranh chấp dựa trên cơ sở của các bằng chứng có thể xác minh được, đồng thời được phạm vi hóa thay vì chỉ dựa vào sự khẳng định mang tính dân tộc chủ nghĩa.

Giới thiệu

Tranh chấp Biển Đông bắt nguồn từ một số lập luận về chủ quyền lãnh thổ gây nhiều tranh cãi nhất vào đầu thế kỷ 21. Có năm nước, sáu bên tranh chấp các đảo, đá ở Biển Đông bao gồm Trung Quốc (Trung Hoa Dân Quốc và Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc), Malaysia, Philippines, Việt Nam và Brunei. Những yêu sách này ngày càng phức tạp bởi tranh chấp về quyền đối với vùng biển được xác định từ các thực thể cụ thể; việc phân định các vùng biển; và khả năng các quốc gia có thể ngăn cản hoạt động của các tàu quân sự trong vùng biển của mình.

Các tranh chấp này có ảnh hưởng rất lớn bởi tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông đối với Trung Quốc, Mỹ và các quốc gia khác. Một vài nhà quan ước tính giá trị thương mại đi qua Biển Đông mỗi năm là hơn 5 nghìn tỷ USD.[1] Khu vực này cũng là tuyến đường biển quan trọng để các tàu quân sự trung chuyển giữa Châu Á, Trung Đông và Châu Âu. Theo góc nhìn của các nhà phân tích phương Tây, Biển Đông cũng là phép thử chiến lược cho việc trỗi dậy thành cường quốc của Trung Quốc. Các học giả này đánh giá quan điểm của Trung Quốc đối với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS)[2] sẽ phản ảnh việc giới lãnh đạo nước này trong tương lai sẽ tuân thủ những quy tắc của hệ thống quốc tế hiện hành hay thách thức trật tự này.[3]

Nhằm làm rõ các tranh chấp, Philippines đã chính thức kiện Trung Quốc lên Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS. Mặc dù Tòa không thể giải quyết vấn đề liên quan đến chủ quyền hay phân định biển, nhưng Tòa đã làm rõ liệu Trung Quốc có thể khẳng định “quyền lịch sử” ở Biển Đông hay không. Theo phán quyết ngày 12/7/2016: “Sau khi xem xét nội dung và bối cảnh của Công ước, Tòa Trọng tài khẳng định bác bỏ mọi quyền lịch sử một quốc gia có thể từng có ở khu vực hiện nay là một phần trong vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của quốc gia khác.”[4] Nói cách khác, Trung Quốc không thể yêu sách quyền đối với tài nguyên biển vượt quá các quyền được quy định trong UNCLOS. Việc phủ định trực tiếp quyền lịch sử này, mà Trung Quốc dựa vào để củng cố yêu sách biển mơ hồ của nước này, có thể là một động lực cho việc xem xét một cách nghiêm túc hơn về câu chuyện này.

Tranh chấp Biển Đông chỉ bắt đầu hình thành từ những năm 1900. Mặc dù các bên yêu sách hiện nay đưa ra các bằng chứng sớm hơn để củng cố yêu sách của mình, nhưng rõ ràng giữa các bên không có tranh chấp bất kỳ hòn đảo nào trước thế kỷ 20. Bài viết này chỉ ra rằng tranh chấp đầu tiên diễn ra giữa Trung Quốc (nhà Thanh) và Nhật Bản đối với đảo Pratas, bắt nguồn từ việc phát hiện một thương nhân Nhật Bản tiến hành hoạt động khai thác phân chim. Sự kiện trên dẫn đến việc Trung Quốc bồi thường cho thương nhân này và Nhật Bản công nhận yêu sách của Trung Quốc vào cuối năm 1909. Điều này cũng dẫn đến việc Trung Quốc đưa ra yêu sách đối với một số thực thể tại quần đảo Hoàng Sa vào tháng 6/1909.[5] Tranh chấp mở rộng trong những năm 1920 và 1930, với việc Pháp, các chính quyền khác nhau của Trung Quốc, và Nhật Bản theo đuổi các yêu sách tranh chấp ban đầu là Hoàng Sa và sau đó là Trường Sa.

Việc các bên tranh chãi gay gắt về lịch sử của tranh chấp ảnh hưởng lớn đến các nghiên cứu về yêu sách. Mục tiêu tìm kiếm một câu chuyện rõ ràng đã bị cản trở bởi những bí mật của chính quyền, tiếp cận hạn chế đối với các nguồn dữ liệu và rào cản ngôn ngữ. Tranh cãi trong giới luật pháp quốc tế và quan hệ quốc tế bị hạn chế do thiếu gắn kết với các lĩnh vực nghiên cứu khác; đặc biệt việc xem xét các nghiên cứu lịch sử đã bị bỏ qua. Tuy nhiên, việc số hóa tài liệu khiến các dữ liệu vốn không thể tiếp cận lần đầu tiên được tiếp cận một cách dễ dàng. Hiện nay các nhà nghiên cứu dễ dàng hơn trong việc tìm tài liệu phản biện các câu chuyện được khẳng định trước đó.

Trong nỗ lực nắm bắt nguồn gốc của tranh chấp, nhiều người viết về pháp lý đã coi các bài viết của một bên này hay bên khác trong tranh chấp là bằng chứng của sự thật. Tác giả cho rằng nhiều văn bản trong số này là nhằm tạo ra yêu sách thay vì là bằng chứng cho các yêu sách sẵn có. Để hiểu được toàn bộ nguồn gốc của tranh chấp, cần có quan điểm phản biện trước mọi bằng chứng các bên đưa ra. Bài viết chỉ ra rằng, thông qua các nghiên cứu chi tiết về các nguồn tham khảo được sử dụng trong một số bài nghiên cứu nổi bật và so sánh với kết quả từ những nghiên cứu lịch sử gần đây, các nguồn tham khảo cơ bản cho việc thảo luận về Biển Đông trong cộng đồng luật quốc tế phạm phải những sai lầm nghiêm trọng. Những sai lầm này dẫn đến việc “các luật sư giỏi” đã viết “sai lịch sử”  - hoàn toàn khác biệt với các bằng chứng đã được xác minh. Những tác giả này sử dụng những lập luận không có cơ sở, dựa vào tư duy chủ nghĩa dân tộc, hơn là đánh giá một cách trung lập. Việc viết “sai lịch sử” khiến các tác giả này đưa ra hàng loạt kết luận sai lệch.

Những phân tích đầu tiên bằng tiếng Anh

Có rất ít hoặc hầu như không có các phân tích bằng tiếng Anh về tranh chấp Biển Đông trước năm 1974. Những bài viết đầu tiên chỉ xuất hiện sau “Trận chiến Hoàng Sa” vào tháng Giêng năm 1974, khi Trung Quốc chiếm nửa phía Tây Hoàng Sa do Việt Nam kiểm soát. Các bài viết pháp lý đầu tiên là của học giả người Trung Quốc làm việc tại Mỹ Đào Thành (Tao Cheng) trong tạp chí Luật Quốc tế Texas (Texas International Law Journal) do sinh viên biên tập vào năm 1975[6] và Khâu Hoành Đạt (Hungdah Chiu), cùng đồng nghiệp người Hàn Quốc Choon-Ho Park, trong bài viết được đăng cùng tạp chí trên năm 1975.[7] Cho tới  nay, các bài viết này vẫn có ảnh hưởng lớn. Hầu hết các phân tích pháp lý về tranh chấp Biển Đông sau này đều trực tiếp trích dẫn hai công trình trên hoặc tham khảo các nghiên cứu dựa trên hai công trình này. Điều này được chứng minh thực tế là một nghiên cứu năm 2014 về tranh chấp Biển Đông, do Trung tâm Nghiên cứu Hải quân Mỹ (U.S. Center for Naval Analyses) thực hiện, đã trích dẫn nghiên cứu của Đào Thành 26 lần và của Khâu Hoành Đạt- Choon-ho Park 60 lần.[8]

Những năm sau này, các nhà nghiên cứu khác đã tham gia vào cuộc tranh luận - đáng chú ý có nhà Hán học Dieter Heinzig[9] và nhà địa lý người Mỹ Marwyn Samuels.[10] Các bài viết của hai tác giả này ảnh hưởng lớn tới các bài viết sau này về tranh chấp Biển Đông dưới góc độ của khoa học chính trị, quan hệ quốc tế và luật quốc tế. Google Scholar thống kê rằng các bài viết của Khâu Hoành Đạt- Choon-ho Park đã được trích dẫn bởi 79 bài viết khác, trong khi cuốn sách của Samuels được trích dẫn 143 lần. Loạt các bài viết lần thứ hai vào những năm 1990s - sau sự kiện Trung Quốc chiếm 6 đảo ở Trường Sa năm 1988 và Bãi Vành Khăn năm 1994[11]  - đã sử dụng các bài viết trước đó như nguồn chính để cung cấp bối cảnh lịch sử. Các tác giả có bài viết được trích dẫn có thể kể đến như Brian Murphy 1994 và Thẩm Kiến Minh (Jianming Shen) vào năm 1997[12]  và 2002[13]  với lần lượt là 34 và 35 lượt trích dẫn; Chi-kin Lo với cuốn sách xuất bản năm 1989[14]  được trích dẫn 111 lần. Các trích dẫn này có lẽ chỉ là bề nổi của tảng băng chìm vì các bài viết của thế hệ sau còn trích lại hàng trăm lần nữa. Ví dụ như cuốn sách năm 2014 của Stefan Talmon và Giả Bình Bình (Jia Bing Bing) về vụ việc Philippines kiện Trung Quốc[15] cũng dẫn các bằng chứng lịch sử từ những bài viết đã liệt kê bên trên.

Điểm chung của tất cả các tài liệu này là sử dụng các bài báo bằng Tiếng Trung làm nguồn tham khảo chính. Các tài liệu tham khảo Tiếng Trung được công khai vào thời điểm khi các thảo luận về Biển Đông đang được quan tâm. Đây không phải là các công trình nghiên cứu của các chuyên gia lịch sử nhưng lại khẳng định yêu sách có phần thiên lệch với những dẫn chứng khá hạn chế. Bài viết năm 1975 của Đào Thành[16] chủ yếu dựa vào các nguồn của Trung Quốc với các thông tin bổ sung từ báo chí Mỹ. Tài liệu tham khảo quan trọng nhất là ấn phẩm Bình luận Ngoại giao (Wai Jiao Ping lun/Foreign Affairs Review) tại Thượng Hải từ năm 1933 và 1934 và Tân Á Hàng Tháng (Xin Ya Xiya yue kan/New Asia Monthly) từ năm 1935. Các tài liệu này được bổ sung thêm các nguồn từ phiên bản 1974 của Minh Báo hàng tháng (Ming Pao Monthly) ở Hồng Kông. Các báo khác được trích dẫn lại bao gồm ấn phẩm 1933 của Tin tức Quốc gia Hàng tuần (Guo Wen Zhou Bao/National News Weekly) xuất bản ở Thượng Hải, Nhật báo Nhân dân (Renmin Ribao/People’s Daily) và Thời báo New York (The New York Times). Đào Thành đã không trích dẫn bất cứ nguồn tài liệu tiếng Pháp, tiếng Việt, và tiếng Philippines, ngoại trừ bài báo năm 1933 trên La Geographie được dịch và in lại trên ấn phẩm Bình luận Ngoại giao.

Bài báo 1975 của Khâu Hoành Đạt và Choon-Ho Park[17] chủ yếu dựa vào các nguồn tương tự. Trong các phần quan trọng, bài báo trích dẫn các bằng chứng dựa trên một bài báo công bố vào năm 1933 trên ấn phẩm Bình luận Ngoại giao[18]Tờ Ngoại giao Hàng tháng (Wai Jiao Yue Bao/Diplomacy Monthly),[19] Địa lý Hàng tháng (Fan Zhi yue Kan/Geographic Monthly) từ năm 1934,[20] cũng như Tin tức Quốc gia Hàng tuần Công báo của Bộ Ngoại giao Trung Quốc (Wai Jiao Bu Gong Bao/Gazette of the Ministry of Foreign Affairs).[21] Bài báo bổ sung thông tin từ các nguồn tài liệu thu thập của nhà địa lý Trịnh Tứ Viết (Zheng Ziyeu), làm việc cho Bộ Nội vụ Trung Hoa Dân Quốc, và công bố trên Thông tin địa lý chung về các đảo trên Biển Nam Hải (Nanhai Zhudao Dili Zhilue/General Records on the Geography of Southern Islands) năm 1947[22] và các tuyên bố của Trung Hoa Dân Quốc từ năm 1956[23] và 1974.[24]

Khâu Hoành Đạt và Choon-ho Park sử dụng một số tài liệu tiếng Việt, chủ yếu từ các thông cáo báo chí hay tờ thông tin do Đại sứ quán Việt Nam tại Washington cung cấp. Hai tác giả này cũng trích dẫn  một số “tài liệu chưa được công bố mà họ sở hữu”. Tuy nhiên, phần lớn nguồn của họ là từ báo chí Trung Quốc.

Trong một nghiên cứu một năm sau đó, Heinzig[25] đặc biệt dựa vào các ấn phẩm xuất bản của Hồng Kông được công bố sau sự kiện Hoàng Sa và nhằm mục đích ủng hộ yêu sách của Trung Quốc, bao gồm Niên đại 70 Hàng tháng (Qishi Niandai/Seventies Monthly) và Minh báo hàng tháng,[26] được công bố lần lượt vào tháng 3 và tháng 5/1974. Khuôn mẫu do Đào Thành, Khâu Hoành Đạt và Choon-ho Park, và Heinzig đặt ra được lặp lại trong cuốn sách của Marwyn Samuel trong khoảng thời gian đó. Trong phần giới thiệu sách, Samuel tự thừa nhận các nguồn tham khảo nghiêng về phía Trung Quốc, khi khẳng định:

Đây không phải một nghiên cứu chủ yếu về lịch sử biển, chính sách biển hay các lợi ích của Philippines hay Việt Nam. Ngay cả khi các yêu sách và các yêu sách phản biện được đề cập chi tiết, nghiên cứu đúng hơn hướng tới đặc điểm thay đổi trong chính sách biển Trung Quốc.[27]

Nhìn chung, Samuel thừa nhận rằng nghiên cứu Châu Á của ông chủ yếu tập trung vào các nguồn tài liệu tham khảo của Đài Loan. Tuy nhiên, các dữ liệu quan trọng liên quan đến hoạt động của Trung Hoa Dân Quốc ở Biển Đông đầu thế kỷ 20 chỉ được giải mật vào khoảng năm 2008/2009, rất lâu sau khi công trình của ông được công bố.[28]

Bối cảnh của các nguồn tài liệu này rất quan trọng. Năm 1933 là thời điểm Pháp chính thức thôn tính nhiều thực thể ở Trường Sa - gây ra làn sóng giận dữ khắp Trung Quốc. Khoảng thời gian sau tuyên bố của Pháp, vào ngày 14/7/1933,[29] là thời điểm các học giả và quan chức chính phủ Trung Quốc bắt đầu nỗ lực chung nhằm cố gắng xác định và thiết lập các bằng chứng cho yêu sách các thực thể ở Biển Đông. Vào năm 1956, một doanh nhân Philippines Tomas Cloma đã yêu sách hầu hết Trường Sa cho đất nước độc lập của ông với tên gọi “Vùng đất tự do” - vấp phải sự phản đối của Trung Hoa Dân Quốc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và Việt Nam Cộng hòa; và năm 1974 là năm xảy ra sự kiện Hoàng Sa. Các bài báo công khai trong ba giai đoạn này không thể coi là nguồn chứng cứ trung lập và công bằng. Hơn nữa, các bài báo này nhiều khả năng sẽ thiên vị quan điểm của một quốc gia cụ thể. Điều này không có nghĩa rằng các bài báo trên không chính xác, nhưng cần thận trọng thẩm tra lập luận trong các bài báo này với những nguồn chính. Không phải được các tác giả trích dẫn là đã được chứng thực.

Trong suốt bốn thập kỷ qua, các nguồn thông tin mới về lịch sử của Biển Đông được khai thác và các bằng chứng mới đã được công khai rộng rãi. Kết quả là, chúng ta nhận thấy tất cả các nghiên cứu trước đây đều mắc phải những vấn đề lớn. Mặc dù là những nhà luật pháp xuất sắc, các tác giả này không phải là những nhà lịch sử giỏi. Họ chủ yếu dựa vào các nguồn không đáng tin cậy, không xem xét bối cảnh và ngôn ngữ cụ thể khi đi đến kết luận. Lịch sử sai hay không hoàn thiện dẫn đến nhưng nghiên cứu kém chất lượng. Các vấn đề này sau đó tiếp tục lặp lại và phổ biến trong nhiều nghiên cứu khác. Đến một mức độ nào đó, nó sẽ trở thành một nguồn tham khảo chính thống đối với các diễn biến của tranh chấp. Đã đến lúc các nghiên cứu này cần được đánh giá lại.

Các bằng chứng trước thế kỷ 19

Trong khuôn khổ bài viết không thể đề cập mọi yêu sách các tác giả đã đưa ra trong các sự kiện trước thế kỷ 19. Tóm lại, các tác phẩm của Đào Thành, Khâu Hoành Đạt và Choon-ho Park, và Samuels có nhận định chung rằng Trung Quốc là cường quốc về hải quân, thương mại, nghề cá ở Biển Đông. Ví dụ, Đào Thành đã viết: “Biển Đông là một phần quan trọng trong tuyến đường biển từ Châu Âu sang phía Đông từ thế kỷ 16. Đây là thiên đường cho các ngư dân từ Đảo Hải Nam, và cửa ngõ cho thương nhân Trung Quốc từ phía nam Trung Quốc xuống Đông Nam Á từ những ngày đầu.”[30]

...

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

Bill Hayton, nhà nghiên cứu tại Chương trình Nghiên cứu Châu Á, Viện Nghiên cứu Chatham House, London, Vương quốc Anh. Bài viết được đăng trên Ocean Development & International Law, Vol. 48, 2017.

Thùy Anh (dịch)

Tuấn Đinh (hiệu đính)

Bài dịch thuộc bản quyền Nghiên cứu Biển Đông. Đề nghị chỉ được dẫn đường link, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập.

 



[1]B. S. Glaser, “Armed Clash in the South China Sea: Contingency Planning Memorandum Update” (2015), Council on Foreign Relations, www.cfr.org/sasia-and-pacific/conflict-south-china-sea/p36377.

[2] Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển, 1833 U.N.T.S.397

[3]A. S. Erickson, “America’s Security Role In The South China Sea,” Naval War College Review, 69 (2016): 7–20.

[4]In the Matter of the South China Arbitration (the Philippines and China), Award, 12/7/2016, đoạn 247, trang web của Tòa Trọng tài Thường trực, www.pca-cpa.org.

[5]B. Hayton, The South China Sea: The Struggle for Power in Asia (New Haven, CT: Yale University Press, 2014), 65.

[6]Cheng Tao, “Dispute over the South China Sea Islands,” Texas International Law Journal 10 (1975): 265–277.

[7]H. Chiu và C. H. Park, “Legal Status of the Paracel and Spratly Islands,” Ocean Development & International Law 3 (1975): 1–28.

[8]Pete Pedrozo, “China Versus Vietnam: An Analysis of the Competing Claims in the South China Sea,” Center for Naval Analyses, tháng 8/2014, www.cna.org/sites/default/files/research/IOP-2014-U-008433.pdf.

[9]D. Heinzig, Disputed islands in the South China Sea: Paracels, Spratlys, Pratas, Macclesfield Bank, (Hamburg: Institut fur€ Asienkunde, 1976).

[10]Marwyn S. Samuels, Contest for the South China Sea (New York, NY: Methuen, 1982).

[11]Brian K. Murphy, “Dangerous Ground: the Spratly Islands and International Law,” Ocean and Coastal Law Journal 1 (1994): 187–212.

[12]Jianming Shen, “International Law Rules and Historical Evidence Supporting China’s Title to the South China Sea Islands,” Hastings International and Comparative Law Review 21 (1997–1998): 1–75.

[13]Jianming Shen, “China’s Sovereignty over the South China Sea Islands: A Historical Perspective,” Chinese Journal of International Law 1 (2002): 94–157.

[14]Chi-kin Lo, China’s Policy Towards Territorial Disputes: The Case of the South China Sea Islands (London: Routledge, 1989).

[15]S. Talmon and B. B. Jia, The South China Sea Arbitration: A Chinese Perspective (London: Bloomsbury Publishing, 2014).

[16] Cheng, xem chú thích số 6.

[17] Chiu và Park, xem chú thích số 7.

[18]Wai Jiao Ping Lun [Wai-chiao p’ing-lun/The Foreign Affairs Review], Shanghai, vol. 2, no. 10 (tháng 10/1933): 64–65.

[19]Wai Jiao Yue Bao [ Wai-chiao yueh€-pao/Diplomacy Monthly], quyển 3, số. 3 (Peiping [Peking], 15/9/1933): 78.

[20]Fanzhi Yuekan [Fan-chih yueh€-k’an/Geography Monthly], quyển 7, số. 4 (Nanking, 1/4/1934): 2.

[21]Wai Jiao Bu Gongbao [Wai-chiao-pu kung-pao/Gazette of the Ministry of Foreign Affairs] quyển 6, số 3 (July–September 1933), 208.

[22]Zheng Ziyue [Cheng Tzu-yueh],€ Nanhai Zhudao Dili Zhilue [Nan-hai chu-tao ti-li chih-lueh€] (A Brief Geography of the South Sea Islands) (Shanghai: Shang wu yin shu guan [Shang-wu ying-shu-kuan], 1947).

[23]Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Hoa Dân Quốc, được tóm tắt trong “Vietnamese Claim of Sovereignty Refuted,” Free China Weekly, June 26, 1956, tr. 3; Chung-yang jih-pao, 11/6/1956, p. 6; và Shao Hsun-cheng, “Chinese Islands in the South China Sea,” People’s China, no. 13 (Peking, 1956), Foreign Languages Press.

[24]Lien-ho-pao [United Daily News], ấn phẩm nước ngoài, 25/2/1974, tr. 3; “Memorandum on Four Large Archipelagoes” Bộ Ngoại giao Trung hoa Dân quốc (tháng 2/1974).

[25]Heinzig, xem chú thích số 9.

[26]Ming Pao Yueh€-k’an, no. 101, tháng 5/1974.

[27]M. Samuels, xem chú thích số 10, tr. xii.

[28]C. P. C. Chung, “Since Time Immemorial”: China’s Historical Claim in the South China Sea, MA Thesis (University of Calgary, 2013), 8.

[29]Thông báo công khai sau khi công bố các lưu ý trên the Journal Officiel de la Republi-que Francaise vào ngày 15/7/1933, tr. 7794, and 26/7/1933, tr. 7837.

[30]Cheng, xem chú thích số 6, tr. 266.

 

Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Phân tích chuyên sâu cho thấy, hành động dân quân biển Trung Quốc “cấu thành” trách nhiệm pháp lý cho chính phủ Trung Quốc, đồng thời làm xói mòn các ngành luật chuyên biệt của luật pháp quốc tế. Phân tích cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể để đối phó với thách thức mà dân quân biển Trung Quốc đặt ra.

Đọc tiếp...

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Mặc dù Phán quyết của Toà tập trung chủ yếu vào việc làm rõ phạm vi các quyền lợi biển của Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, tuy nhiên phần về hoạt động cải tạo và xây đảo của Trung Quốc cũng rất đáng chú ý. Với mục đích này, bài viết sẽ kiểm chứng những kết luận của Tòa về tính pháp lý trong hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng như những quy định pháp lý về những hoạt động này.

Đọc tiếp...

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck hoặc đi theo mô hình của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng.

Đọc tiếp...

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Các tác giả bài phân tích cho rằng việc làm sống lại lập luận về “cân bằng quyền lực liên kết” sẽ đưa ra những ý tưởng mới giúp luật quốc tế có thể phát huy khả năng của mình trong tranh chấp Biển Đông. Từ đó, bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu liên ngành giữa Luật quốc tế và Nghiên cứu chiến lược nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên biển Đông dựa trên các nguyên tắc pháp luật.

Đọc tiếp...

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

Bài viết đánh giá tổng quan về mối quan hệ hợp tác biển Trung Quốc ASEAN cũng như những động lực và tác động đằng sau những sáng kiến hợp tác giữa hai bên. Bên cạnh đó, bài viết đưa ra phương hướng và triển vọng để Biển Đông trở thành “vùng biển hợp tác”, góp phần duy trì hòa bình, ổn định khu vực.

Đọc tiếp...

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte, Philippines được xem là người bạn thân mới của Trung Quốc. Tuy nhiên cách làm này của Tổng thống Philippines đã gây ra phản ứng trong nước trên diện rộng, khiến cho chính quyền của Duterte phải cẩn thận hơn trong những bước đi tiếp theo.

Đọc tiếp...

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Bài viết đánh giá các tác động của Phán quyết đối với tự do hàng hải và việc sử dụng vũ lực ở Biển Đông, xác định các kết luận rút ra từ Phán quyết và các vấn đề tồn tại. Phán quyết cũng gián tiếp đặt ra vấn đề việc sử dụng vũ lực để bảo vệ các quyền lưu thông trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Vai trò lãnh đạo đang sa sút của Mỹ và trật tự dựa trên nguyên tắc đang suy yếu có quan hệ phụ thuộc qua lại với chủ nghĩa xét lại và thái độ quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh. Cách thức điều này diễn ra ở Biển Đông là một tiền lệ nguy hiểm cho các điểm nóng quân sự khác trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Khu vực này có thể làm gì để ứng phó?

Đọc tiếp...

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Chế độ quản trị bằng luật pháp quốc tế sẽ đứng vững hay sụp đổ là phụ thuộc vào việc các tàu thuyền dân sự có tự tin hoạt động ở những nơi và theo cách thức họ muốn trong khuôn khổ các quyền lợi hợp pháp quốc tế của mình hay không.

Đọc tiếp...

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Vì sao việc định nghĩa hành vi sử dụng vũ lực có ý nghĩa quan trọng trong luật quốc tế? Và việc nhận định các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông là hành vi sử dụng vũ lực theo nghĩa của Điều 2(4) Hiến chương Liên Hợp Quốc có tác động như thế nào về mặt pháp lý?

Đọc tiếp...

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông được thể hiện qua động thái thay đổi lập trường từ “không dính líu” sang “can dự có chừng mực” và “tích cực can dự” trong các diễn biến liên quan đến Biển Đông. Đồng thời bài viết cũng đưa ra một số nhận xét về quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông từ sau Chiến tranh Lạnh.

Đọc tiếp...

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Trung Quốc đang nỗ lực sử dụng sức mạnh quân sự nhằm hủy hoại các quyền mà luật pháp quốc tế dành cho các quốc gia, đe dọa đến hòa bình và an ninh thế giới.

Đọc tiếp...

Biển Đông liệu có trở thành "ao nhà" của Trung Quốc?

Biển Đông liệu có trở thành

Nếu không hành động sớm, rất có thể Biển Đông sẽ thực sự trở thành một cái ao của Trung Quốc, vừa ô nhiễm vừa dần cạn kiệt nguồn cá.

Đọc tiếp...

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Những động thái gần đây của Trung Quốc làm suy yếu các quy tắc toàn cầu

Mỹ cần chủ động có những biện pháp cụ thể để ngăn chặn Trung Quốc. Nếu không, sự thụ động và mặc nhận sẽ làm suy yếu vị thế của Mỹ, khiến Trung Quốc trở nên táo bạo hơn nữa trong việc thực hiện ý đồ của mình mà không gặp phải bất kỳ thách thức hay trở ngại nào.

Đọc tiếp...

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc

Nếu bất kỳ điều gì xảy ra với các nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc - cho dù đó là một vụ tràn phóng xạ ra biển, hay hư hại khoang chứa do các cơn bão nhiệt đới, hay một vụ va chạm vô tình với các tàu đi qua - đều có tác động nghiêm trọng về môi trường, kinh tế và tâm lý đối với khu vực.

Đọc tiếp...

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân của Trung Quốc và uy tín quốc gia

Sức mạnh hải quân nằm ở trung tâm khát vọng của Trung Quốc kết hợp với an ninh năng lượng, chiến lược hàng hải, sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ nghĩa dân tộc về hải quân, chính sách đối ngoại, triển khai sức mạnh và sự lãnh đạo trong khu vực.

Đọc tiếp...

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông lần đầu tiên được thể hiện bằng một đường biên giới liên tục

Ban Biên Tập: Ngày 22/4/2018, Tờ Hoa Nam Buổi Sáng (South China Morning Post) đăng bài báo của tác giả Stephen Chen về đề xuất hình thành một đường biên giới liên tục trên cơ sở Đường lưỡi bò của một nhóm học giả Trung Quốc (do chính phủ Trung Quốc tài trợ). Để góp phần cung cấp thông tin cho bạn đọc, Nghiên cứu Biển Đông đã dịch và đăng lại bài báo này.

Đọc tiếp...

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Năm bài học rút ra từ vụ Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông

Việc khởi kiện Trung Quốc là thời khắc lịch sử trong quan hệ đối ngoại của Philippines: Bởi đây là lần đầu tiên Philippines tìm đến luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp chính trị. Đọc tiếp...

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Chuyển Biến Chính Sách của Đài Loan sau Phán Quyết Biển Đông

Tháng 7/2016, Tòa Trọng tài đã ra phán quyết cho vụ Philippines kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở Biển Đông. Tuy lúc đầu đưa ra phản ứng bác bỏ, nhưng Tổng thống Thái Anh Văn đã thông qua một chính sách Biển Đông mới không trực tiếp thách thức quyết định của Tòa.

Đọc tiếp...

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Cơ chế tham vấn song phương Trung Quốc-Philippines về Biển Đông: Triển vọng và thách thức

Trung Quốc và Philippines cho rằng cơ chế này đã đạt được một số dấu hiệu lạc quan ban đầu. Tuy nhiên, theo đánh giá và phân tích từ các nhà quan sát, vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi họ có thể chuyển sang giai đoạn hoạt động chung tiếp theo, chứ chưa nói đến cùng phát triển.

Đọc tiếp...

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Quan hệ Việt Nam-Ấn Độ càng thêm sâu sắc sau chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đại Quang diễn ra chỉ hơn 1 tháng sau khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến New Delhi vào tháng 1 đã thể hiện rõ nét quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước tại thời điểm Ấn Độ tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại các khu vực ngoại vi của Trung Quốc và Việt Nam đang phải đối mặt với các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Ấn Độ và Biển Đông

Ấn Độ và Biển Đông

Quyết định của Ấn Độ muốn tự tham gia vào một môi trường phức tạp ở Biển Đông, ngay cả khi có nguy cơ kích động nước láng giềng khổng lồ của mình, cho thấy tầm quan trọng mà New Delhi đặt vào khu vực này cũng như các tuyến đường biển ở đây. 

Đọc tiếp...

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Bố cục quân sự của Mỹ xung quanh Biển Đông - Một phân tích từ Trung Quốc

Mặc dù chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương” của Chính quyền Obama đã chính thức kết thúc, ảnh hưởng của chiến lược này trong những năm gần đây vẫn rất sâu sắc. Chính quyền Donald Trump vẫn tiếp tục thúc đẩy can dự khu vực, trong đó Biển Đông là khu vực then chốt để quay trở châu Á-Thái Bình Dương, ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

ASEAN dưới thời Tổng thống Duterte: Những cơ hội bị đánh mất trong vấn đề Biển Đông

Dưới thời ông Duterte giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, khối này đã đánh mất một cơ hội quan trọng để “lên án hoặc trừng phạt” Trung Quốc. Đáng quan ngại hơn là điều này đã làm suy yếu vai trò trung tâm của ASEAN trong việc giải quyết một trong những điểm nóng nan giải và dễ bùng nổ nhất trong thế kỷ 21.

Đọc tiếp...

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Vươn ra ngoài các vùng biển gần - Thách thức đối với hải quân Biển-Xanh Trung Quốc

Năng lực hải quân không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc có những hàm ý khó nắm bắt, và quan trọng hơn là những tác động không thể xem nhẹ. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách an ninh của Mỹ và các nước đồng minh cần phải đánh giá kỹ lưỡng vấn đề. Nghiên cứu này đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách.

Đọc tiếp...

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Tập Cận Bình, PLA và tranh chấp Biển Đông

Việc hiểu chính xác chiến lược quân sự - dân sự của Trung Quốc trên Biển Đông và sự đóng góp của PLA trong việc hình thành chiến lược này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hiểu rõ hơn sự điều chỉnh chính sách Biển Đông của Chủ tịch Tập Cận Bình và hành vi quyết đoán của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Nghề cá: Một khía cạnh mới cho các hành động trên biển của Trung Quốc

Khả năng đánh bắt ngày càng phát triển của Trung Quốc dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường biển. Tuy nhiên, nghề cá trở thành một thành tố quan trọng trong yêu sách chủ quyền vùng biển của Trung Quốc. Các khái niệm như chủ quyền, quyền lãnh thổ và quyền đánh bắt ẩn ý rằng rằng nghề cá trở thành một lĩnh vực “chủ quyền hoá”.

Đọc tiếp...

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Điều chỉnh lại chiến lược của Mỹ ở Biển Đông

Chính sách của Mỹ ở Biển Đông hiện nay đã không thể giải quyết hoàn toàn 2 vấn đề quan trọng liên quan đến Trung Quốc. Bài phân tích sẽ đánh giá cách thức chiến lược của Mỹ ở Biển Đông có thể được tối ưu hóa nhằm duy trì ưu thế quân sự trong khi đối phó nguy cơ bất ổn định bắt nguồn từ một cuộc xung đột với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc: Khái niệm và thực tiễn

Trong thời gian từ giờ đến năm 2025, có khả năng Trung Quốc sẽ tiếp tục chính sách hiện tại, tức là từng bước củng cố quyền kiểm soát đối với các biển Hoa Đông và Biển Đông đồng thời tuyên bố các ý định hòa bình của nước này và viện đến lịch sử như một lời biện minh cho các tuyên bố chủ quyền của nước này. Nước này sẽ tiếp tục tăng cường sự hiện diện của các tàu cảnh sát biển và tàu đánh cá với khả năng phòng thủ có vũ trang.

Đọc tiếp...

Tham vọng Chủ nghĩa Xét lại của Trung Quốc tại Đông Nam Á và Vết đen Tranh chấp Biển Đông

Tham vọng Chủ nghĩa Xét lại của Trung Quốc tại Đông Nam Á và Vết đen Tranh chấp Biển Đông

Trong 20 năm qua, Bắc Kinh đã gặt hái được một số thành công trong việc thay đổi hiện trạng khu vực bằng chính sách láng giềng tốt. Nhưng rắc rối trong vấn đề Biển Đông dường như lại ngăn cản quá trình thực hiện những tham vọng của chủ nghĩa xét lại đối với khu vực trong những thập kỷ tới.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7793 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin